Chuyến đi Trung Hoa “không lý do chính đáng” trong 3 ngày
(12-15/01/2017) của Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã gây
thắc mắc nhiều hơn trả lời.
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh nói với
báo, đài nhà nước hôm 5/1/2017 rằng: “Mục đích chuyến thăm Trung Quốc của Tổng
Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhằm tăng cường quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt
Nam và Trung Quốc, khẳng định đường lối đối ngoại của Việt Nam muốn tăng cường
quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước, trong đó có Trung Quốc-một đối tác chiến
lược toàn diện quan trọng của Việt Nam”.
Lời nói của ông Minh xưa như trái đất vì nó đã được phía Việt
Nam lập đi lập lại không biết chán mỗi khi có chuyến đi nước ngoài của Lãnh đạo.
Lần này ông Bộ trưởng Ngọai giao còn tô vẽ thêm: “Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng
Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngay thời điểm đầu năm mới khẳng định rõ mong muốn của
Việt Nam đưa quan hệ với Trung Quốc đi vào chiều sâu, hiệu quả, tạo môi trường
hòa bình, ổn định, mở ra một năm sẽ có nhiều chuyến viếng thăm lẫn nhau giữa
lãnh đạo hai bên”.
Nhưng ước mơ chuyến thăm của ông Trọng sẽ “đi vào chiều sâu”
và có “ hiệu quả” để “tạo môi trường hòa bình, ổn định” giữa hai nước Việt-Trung
đã chứng minh là thứ lạc quan bốc đồng.
Bởi vì trong 15 Thỏa hiệp hợp tác được hai bên ký tại Bắc
Kinh chiều 12/01/2017,có những văn kiện không trong sáng và có hại cho Việt
Nam.
ĐÀO TẠO AI – AI ĐÀO TẠO?
Tỷ du như hai bên đã: “Thoả thuận hợp tác đào tạo cán bộ cấp
cao giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn
2017-2020.”
Nhưng ai học ai, học cái gì và “cao” đến cấp nào? Và tại sao
lại kéo dài cho đến hết thời gian trách nhiệm khóa đảng XII (2016-2020) của ông
Nguyễn Phú Trọng, nếu ông đi hết nhiệm kỳ? Sau đó thì hai bên không cần phải
đào tạo thêm nữa, hay đến đó thì kế họach Hán hóa hay Việt hóa đã hòan tất? Rất
mơ hồ.
Nên nhớ mỗi quốc gia là một thực thể độc lập, có chủ quyền
và sự tòan vẹn lãnh thổ của riêng mình. Chính sách và đường lối lãnh đạo cầm
quyền của nước này không phải là bản sao của nước kia, dù có là đồng chí.
Việc trao đổi văn hóa và kinh nghiệm việc làm cho nhau giữa
các dân tộc là bình thường, nhưng khi hai đảng duy nhất cầm quyền Việt-Trung đồng
ý “đào tạo cán bộ cấp cao” cho nhau thì ai cũng biết Bắc Kinh khó mà chấp nhận
làm vai “học trò” của Việt Nam.
Bởi vì từ lâu Bắc Kinh đã chủ động giúp Việt Nam huấn luyện
cán bộ các ngành, đặc biệt cán bộ làm công tác tư tưởng, tuyên truyền (Tuyên
giáo), dân vận, chống nổi dậy, chống tội phạm, diệt ma túy và chống tham nhũng
nên bây giờ leo qua công tác cán bộ cao cấp đảng là việc không lạ.
Có điều là khi hai đảng cầm quyền Việt-Trung đồng lòng dạy dỗ
cán bộ lãnh đạo cho nhau thì hai nhà nước đã xóa đi tính “độc lập” để “hòa hợp”
vào chung một chính sách. Nước nào đưa ra chủ trương thi hành cũng thế thôi.
Nhưng nếu sáng kiến tự đánh mất bản chất độc lập và chủ quyền
Quốc gia là của Việt Nam thì đảng cầm quyền Cộng sản mắc nợ một lời giải thích
trước nhân dân. Nếu ông Nguyễn Phú Trọng đã nhắm mắt đầu hàng trước áp lực của
Tập Cận Bình để được an thân thì lịch sử sẽ khó khoan dung cho ông.
Do đó không lạ khi thấy Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng – Tập
Cận Bình lần này đã không quên nhắc lại lập trường cố hữu của Trung Hoa rằng:
“Hai bên khẳng định Việt Nam và Trung Quốc sẽ tiếp tục kiên trì phương châm
“láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”
(Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương
quan) và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.
Phương châm được gọi là 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt là
đòi hỏi của Trung Quốc đặt ra cho phía Việt Nam phải tuân thủ, bắt đầu từ khi
hai nước nối lại bang giao năm 1991, tiếp theo sau Hội nghị bí mật Thành Đô (tỉnh
Tứ Xuyên,Trung Quốc) năm 1990.
Hội nghị này do phía Việt Nam yêu cầu nhằm bình thường quan
hệ ngọai giao với Trung Hoa để tồn tại khi Thế giới Cộng sản do Nga lãnh đạo,
vào thời gian này, sắp cáo chung. Phái đòan Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Văn
Linh (khóa VI) cầm đầu còn có Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng) Đỗ Mười
và Cố vấn Phạm Văn Đồng. Phía Trung Hoa có Giang Trạch Dân, Tổng bí thư Đảng Cộng
sản Trung Quốc cùng với Lý Bằng, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc.
Những thỏa thuận tại Hội nghị này, bị coi là rất bất lợi cho
Việt Nam, cho đến nay (2017) vẫn còn giữ kín. Duy nhất có một điều được nguyên
Đại sứ Hà Nội tại Bắc Kinh, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh tiết lộ rằng tại
Thành Đô, phía Việt Nam đã phải chấp nhận đòi hỏi của Giang Trạch Dân lọai bỏ Ủy
viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Ngọai giao Nguyễn Cơ Thạch (tên thật là Phạm Văn
Cương) vì ông Thạch có lập trường chống Tầu.
Nhu nhược thay, phía Việt Nam đã nhượng bộ ngay từ khóa đảng
VII thời Đỗ Mười nên có tin nói ông Nguyễn Cơ Thạch đã phải thốt ra câu: “Thế
là một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã bắt đầu.”
Câu nói này có hay không đến nay chưa ai dám xác nhận. Con
trai ông Thạch, Phạm Bình Minh hiện nay là Bộ trưởng Ngọai giao. Ông Minh từng
bị Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, một thân tín của Trung Hoa dìm, không dám cất nhắc
trong 10 năm, vì sợ làm Bắc Kinh phật lòng.
Ngoài ra tại Thành Đô, Việt Nam còn phải đồng ý không được
nhắc đến cuộc chiến Hòang Sa năm 1974 khi quân Trung Hoa chiếm quần đảo này của
Việt Nam từ tay Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
Càng về sau, trong mọi cuộc nói chuyện về tranh chấp chủ quyền
biển đảo, phía Trung Quốc đều từ chối nghe nhắc đến tên Hòang Sa.
Tướng Vĩnh không cho biết liệu Hội nghị Thành Đô có ra điều
kiện nào đối với 2 cuộc chiến tranh biên giới Trung-Việt (1979-1990) hay không,
nhưng phía đảng và nhà nước Việt Nam đã nghiêm cấm các buổi tổ chức tưởng niệm
trên 40 ngàn người Việt Nam đã hy sinh trong 2 cuộc chiến thảm khốc này. Việt
Nam cũng không dám tổ chức tưởng niệm 64 chiến sỹ đã hy sinh chống quân Tầu ở
Trường Sa năm 1988, và từ chối tuyên dương 74 chiến sỹ Hải quân Việt Nam Cộng
Hòa đã bỏ mình vì tổ quốc chống quân Tầu xâm lược Hòang Sa tháng 1/1974.
Phía Việt Nam luôn luôn coi những việc dính đến “tình hữu
nghị Việt-Trung” là “nhạy cảm” nên không dám đụng đến.
Nhưng việc tuân thủ đơn phương của Việt Nam về phương châm
16 vàng và 4 tốt đã liên tiếp được thi hành qua các đời Tổng Bí thư Đỗ Mười
(khóa VII), Lê Khả Phiêu (khóa VIII), Nông Đức Mạnh (khóa IX và X) và Nguyễn
Phú Trọng (khóa XI và XII).
Từ đó đến nay, Trung Quốc đã không ngừng rêu rao và được
phía Việt Nam hớn hở cổ võ theo nói rằng:”Việt Nam và Trung Quốc là hai nước
láng giềng có truyền thống hữu nghị lâu đời, đều là nước xã hội chủ nghĩa do Đảng
Cộng sản lãnh đạo, có chế độ chính trị tương đồng, con đường phát triển gần
gũi, có tiền đồ tương quan, chia sẻ vận mệnh chung.”
TẬP – TRỌNG NÓI GÌ?
Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã phản ảnh nội
dung này khi tiếp ông Trọng tại Bắc Kinh hôm 12/01/2017. Họ Tập nói: “Chính phủ
và nhân dân Trung Quốc coi trọng cao độ quan hệ với Việt Nam; mong muốn và sẵn
sàng nỗ lực cùng Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam tiếp tục không ngừng tăng
cường quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước, đưa quan hệ đối tác hợp tác
chiến lược toàn diện Việt – Trung phát triển lành mạnh, ổn định theo phương
châm “16 chữ” và tinh thần “4 tốt”.”
Về phần mình, ông Trọng đã hạ mình trước Tập Cận Bình để:
”Khẳng định Việt Nam luôn hết sức coi trọng quan hệ với Trung Quốc và chân
thành mong muốn phát triển quan hệ hữu nghị bền vững và hợp tác toàn diện cùng
có lợi với Trung Quốc vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hoà bình và thịnh vượng
trong khu vực và trên thế giới”. (Theo VOV, Voice of Viet Nam/Đài Tiếng Nói Việt
Nam 12/01/2017)
Khơi rộng ra, vẫn theo VOV, hai bên đã đồng ý:” Đẩy mạnh
giao lưu, hợp tác kênh Đảng, giữa các cơ quan của hai Đảng, giữa Quốc hội Việt
Nam và Nhân đại toàn quốc Trung Quốc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chính hiệp
Trung Quốc; làm sâu sắc thêm hợp tác trên các lĩnh vực ngoại giao, quốc phòng,
an ninh, tăng cường hợp tác giữa các lực lượng biên phòng và thực thi pháp luật
hai nước.”
Những quan hệ song phương này cũng không có gì mới mà chỉ lập
lại những cam kết đã có trong các chuyến thăm Trung Hoa năm 2011 của ông Nguyễn
Phú Trọng, sau khi ông được bầu làm Tổng Bí thư khóa đảng XI; của Chủ tịch nước
Trương Tấn Sang năm 2013; của ông Trọng đi Bắc Kinh năm 2015; của ông Tập Cận
Bình đến Việt Nam từ 05 đến 06/2015.
HỢP TÁC QUỐC PHÒNG
Thứ đến cũng rất nghi ngờ là: “Tuyên bố Tầm nhìn chung về hợp
tác quốc phòng giữa Bộ Quốc phòng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ
Quốc phòng nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đến năm 2025.”
Tuyên bố chung giữa hai nước đưa ra khi ông Trọng kết thúc
chuyến thăm không cho biết hai bên đã “nhìn chung về hợp tác quốc phòng” như thế
nào. Liệu “hợp tác” giữa hai nước cựu thù và còn đang gờm nhau trong tranh chấp
lãnh thổ và tài nguyên ở Biển Đông có bảo đảm sẽ không có chiến tranh thêm lần
nữa?
Hay là phía Việt Nam đã cam kết không dám đụng tới lỗ chân lông
lính Tầu đang chiếm đóng trên 7 bãi Đá, nay được tân tạo thành đảo cho quân
đóng, tại Subi, Gaven, Tư Nghĩa, Vành Khăn, Chữ Thập, Gạc Ma và Châu Viên?
Chỉ biết rằng Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Ngô
Xuân Lịch và Thượng tướng Bộ trưởng Quốc phòng Trung Hoa, Thường Vạn Toàn đã ký
bản Tuyến bố ngày 13/01/2017, dưới sự chứng kiến của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản
hai bên.
Theo các báo Việt Nam, ông Lịch đã “đánh giá cao việc ký kết
văn bản này do có ý nghĩa quan trọng trong thời điểm hiện nay, thể hiện bước
phát triển chủ động, tích cực trong quan hệ quốc phòng, góp phần củng cố và
phát triển đại cục quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển giữa hai nước, hai
quân đội, đồng thời làm thất bại mọi âm mưu, luận điệu xuyên tạc, chia rẽ quan
hệ hai nước, hai quân đội.”
Tướng Lịch nói thế nhưng không ai biết thực chất của nội
dung hợp tác quốc phòng Việt-Trung lần này như thế nào. Chỉ thấy rõ trong câu
nói là thỏa hiệp sẽ “góp phần củng cố và phát triển đại cục quan hệ hữu nghị, hợp
tác cùng phát triển giữa hai nước, hai quân đội.”
Làm sao mà Tướng Lịch có thể tin chắc như “bắp rang” với một
đội quân đã từng xâm lăng Việt Nam và vẫn còn chiếm đóng một phần lãnh thổ rộng
lớn của Việt Nam ở dọc biên giới, quan trọng nhất là núi Lão Sơn (điểm cao
1509) ở Vị Xuyên (Hà Tuyên), sau 2 cuộc chiến tranh biên giới 1979-1990?
Chỉ có điều rõ nhất trong quan hệ giữa hai quân đội là khi Đại
tướng Phùng Quang Thanh còn giữ Bộ Quốc phòng thì ông đã đồng ý với Bộ trưởng
Quốc Phòng Trung Hoa Thường Vạn Tòan sẽ tuyệt đối trung thành và bảo vệ đảng cầm
quyền tại mỗi nước.
Thỏa hiệp lạ thường này của phía Việt Nam đã bị lên án là
ngay những việc của quân đội Việt Nam cũng bị ràng buộc vào quyết định của
Trung Hoa.
Vì vậy không ai lạ khi thây ông Lịch còn hội kiến với Thượng
tướng, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc Phạm Trường Long trong thời
gian tháp tùng ông Nguyễn Phú Trọng.
Theo tường thuật của Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) từ Bắc
Kinh ngày 13/01/2017 thì trong cuộc họp này, Bộ trưởng Ngô Xuân Lịch: “Đã đi
sâu trao đổi với đồng chí Phạm Trường Long những biện pháp hợp tác nhằm xây dựng
quân đội vững mạnh về chính trị, xứng đáng là lực lượng trung thành và tin cậy
của Đảng, nhân dân và Tổ quốc, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực
thù địch nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản đối với quân đội,
“phi chính trị hóa” quân đội.”
Như thế rõ ràng tướng Lịch đã phải sang tận Bắc Kinh để được
nghe chỉ bảo của Trung Hoa về cách “xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, xứng
đáng là lực lượng trung thành và tin cậy của Đảng, nhân dân và Tổ quốc.”
Nếu “tầm nhìn quốc phòng chung” mới của Việt-Trung lấy đó
làm mục tiêu hàng đầu thì “anh Bộ đội cụ Hồ” có còn là người lính Việt Nam nữa
không hay là lính Trung Hoa?
Lập trường được gọi là “nhất quán của Việt Nam” hiện nay là
theo đường lối “3 không” gồm (1) không liên minh quân sự; (2) “không liên minh
với nước nào để chống lại nước thứ ba” và cũng (3) “không cho nước nào đặt căn
cứ quân sự tại Việt Nam.”
Nhưng cũng thật cắc cớ không thấy phía Quốc phòng Việt Nam
nói gì đến hành động bành trướng lãnh thổ và phòng thủ mỗi ngày mỗi rộng và
nguy hiểm của Trung Quốc ở Biển Đông, đặc biệt quanh vùng Trường Sa mà Việt Nam
vẫn coi là thuộc chủ quyền của mình.
ĐƯỢC GÌ KHÔNG?
Ngoài hai lĩnh vực quan trọng nêu trên, chuyến đi Tầu lần
này của ông Nguyễn Phú Trọng còn gây cho nhiều người thắc mắc tại sao Việt Nam
phải hợp tác với Trung Quốc để:
– Làm phim truyền hình chuyên đề giữa Đài truyền hình Việt
Nam và Đài truyền hình trung ương Trung Quốc”.
– Thoả thuận hợp tác giữa Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài phát
thanh quốc tế Trung Quốc.
– Thoả thuận hợp tác giữa Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Sự
thật Việt Nam và Nhà xuất bản Nhân dân Trung Quốc giai đoạn 2017 – 2021.
Nguyên nhân tạo nghi ngờ vì trước đây phía tuyên truyền của
Trung Hoa đã phổ biến qua Việt Nam nhiều phim truyền hình ca tụng “chiến thắng
vẻ vang” của quân Tầu chống quân Việt Nam trong chiến tranh biên giới Việt-Trung.
Bắc Kinh cũng dùng Đài Phát thanh Quốc tế Trung quốc (CRI, China Radio
International) tuyên truyền chống Việt Nam về cuộc tranh chấp ở Biển Đông. Nhiều
loại sách báo xuyên tạc và làm ô nhục Việt Nam của Nhà xuất bản Nhân dân Trung
Quốc cũng được tự do lan tràn ở Việt Nam, trước mắt Ban Tuyên giáo và Bộ Thông
tin và Truyển Thông.
Ngoài ra phía Việt Nam và Trung Hoa còn ký “Bản ghi nhớ về
triển khai hợp tác thả giống nuôi trồng và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản trong Vịnh
Bắc Bộ giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và Bộ Nông nghiệp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.”
Nhượng bộ của Việt Nam dành cho Trung Hoa ở vùng biển vịnh Bắc
Bộ đã nhiều, kể từ khi có Hiệp định Phân định Vịnh Bắc bộ năm 2000.
Theo Bách khoa tòan thư mở thì Hiệp định này:” Nhằm xác định
biên giới lãnh hải, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế trong Vịnh Bắc Bộ.
Đây là kết quả sau nhiều đợt đàm phán kể từ năm 1973. Hiệp định này thay thế
Công ước Pháp-Thanh 1887.”
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia hải dương cho rằng Việt Nam đã để
cho Trung Quốc lấn chiếm tại 21 vị trí, trung bình từ 3 đến 27 hải lý (mỗi hải
lý dái 1,825 mét).
Mặc dù cuộc đám phán phân định vào chi tiết vẫn chưa hòan tất,
nhưng phía Trung Hoa đã tự đào kiếm dầu và khí đốt trong khu vực mà cảnh sát biển
và hải quân Việt Nam không dám ra tay.
Tuy vậy, Tuyên bố chung Trọng-Tập lần này lại ép Việt Nam phải
đồng ý:”Hai bên nhất trí làm tốt các công việc tiếp theo sau khi hoàn thành khảo
sát chung tại vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy vững chắc đàm phán phân
định khu vực vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và tích cực thúc đẩy hợp tác cùng
phát triển tại vùng biển này; tiếp tục thúc đẩy công việc của Nhóm công tác bàn
bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển; triển khai hiệu quả các dự án hợp tác
trong lĩnh vực ít nhạy cảm đã thoả thuận.”
Như vậy không những phía Việt Nam phài hợp tác, hay bằng
lòng để cho Trung Hoa đóng bè hay khoanh vùng để nuôi trồng hải sản “bên trong”
vịnh Bắc Bộ mà còn phải đồng ý phân định vùng biển “bên ngoài vịnh Bắc Bộ” để
“hợp tác cùng phát triển”.
Vậy vùng biển “bên ngòai vịnh Bắc Bộ” không phải là Biển
Đông thì là biển gì?
Nên biết năm 2014, Trung Quốc đã tự ý đem gìàn khoan Hải
Dương 981 đặt vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam để tìm kiếm
dầu từ 2/5 đến 15/7/2014. Vị trí này chỉ cách đảo Tri Tôn thuộc Hòang Sa 17 hải
lý (hay khỏang 30 cây số) về phía Nam và cách đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi của
Việt Nam có 120 hải lý về phía Đông.
Cũng nên nhớ là lập trường “hợp tác cùng phát triển” là cụm
từ của phía Trung Quốc, bắt nguồn từ lập trường của Lãnh đạo Đặng Tiểu Bình
“gác tranh chấp để cùng khai thác”, đưa ra từ năm 1979.
Từ đó đến nay, các thế hệ cầm quyền Trung Hoa đã lấy đó làm
kim chỉ nam đế lấn chiếm tài nguyên và lãnh thổ của các nước trong khu vực, thiệt
thòi nhất là phía Việt Nam vì có đường biển dài 3,260 cây số, không kể các đảo.
Nhưng đảng Cộng sản Việt Nam, từ lâu đã phải ngậm đắng nuốt
cay để sử dụng nhóm chữ “hợp tác cùng phát triển” với Trung Hoa mỗi khi phải
nói chuyện biển đảo với Lãnh đạo Tầu.
KHÔNG MỚI NHƯNG NẶNG HƠN
Ngoài chuyện lình xình ở Vịnh Bắc Bộ, thêm lần nữa phía
Trung Hoa cũng lưu ý ông Nguyễn Phú Trọng phải giải quyết tranh chấp Biển Đông
dựa trên 6 Điều ghi trong “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải
quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc” được chính ông Trọng ký tại Bắc
Kinh với lãnh tụ Hồ Cẩm Đào năm 2011.
Có 3 Điều quan trọng như sau:
– (Điều 3). Trong tiến trình đàm phán vấn đề trên biển, hai
bên nghiêm chỉnh tuân thủ thỏa thuận và nhận thức chung mà Lãnh đạo cấp cao hai
nước đã đạt được, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc và tinh thần của “Tuyên bố ứng
xử của các bên ở Biển Đông” (DOC).
Đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam – Trung Quốc, hai
bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị. Nếu tranh chấp liên
quan đến các nước khác, thì sẽ hiệp thương với các bên tranh chấp khác.
Điều này có nghĩa Trung Hoa bác yêu sách của một số nước
trong khối 10 nước trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á muốn “quốc tế hóa” chuyện
tranh chấp. Mục đích là ép Bắc Kinh đồng ý phải để cho Liên Hiệp Quốc, Liên hiệp
Châu Âu, Hoa Kỳ và Nga cùng tham gia qiải quyết vì Biển Đông là đường giao
thông quốc tế có liên quan đến nhiều quốc gia.
– (Điều 4). Trong tiến trình tìm kiếm giải pháp cơ bản và
lâu dài cho vấn đề trên biển, trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng,
cùng có lợi, tích cực bàn bạc thảo luận về những giải pháp mang tính quá độ, tạm
thời mà không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của hai bên, bao gồm việc
tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển theo những
nguyên tắc đã nêu tại điều 2 của Thỏa thuận này.
– (Điều 2). Trên tinh thần tôn trọng đầy đủ chứng cứ pháp lý
và xem xét các yếu tố liên quan khác như lịch sử…, đồng thời chiếu cố đến quan
ngại hợp lý của nhau, với thái độ xây dựng, cố gắng mở rộng nhận thức chung,
thu hẹp bất đồng, không ngừng thúc đẩy tiến trình đàm phán. Căn cứ chế độ pháp
lý và nguyên tắc được xác định bởi luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên
hợp quốc về Luật Biển năm 1982, nỗ lực tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà
hai bên đều có thể chấp nhận được cho các vấn đề tranh chấp trên Biển.)
(Điều 5). “Giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần
tự tiệm tiến, dễ trước khó sau. Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển
ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát
triển tại vùng biển này. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm
như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn
trên biển, phòng chống, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Nỗ lực tăng cường
tin cậy lẫn nhau để tạo điều kiện cho việc giải quyết các vấn đề khó khăn hơn.”
Ngoài những bất lợi cho Việt Nam kể trên, chuyến sang Tầu lần
này của ông Nguyễn Phú Trọng còn có hững thoả thuận về hợp tác văn hóa, giáo dục,
kinh tế, phát triển cơ sở, an ninh biên giới, chống tội phạm, hợp tác cảnh sát
biển, cửa khẩu v.v…
Tuy nhiên tất cả như thứ này và những hứa hẹn như “sẽ thúc đầy”
hay “khuyến khích” của phía Trung Hoa dành cho Việt Nam ghi trong các văn kiện
phải cần thời gian mới thấy có đem lại kết qủa cho Việt Nam hay chỉ có lợi cho
Trung Hoa.
Như vậy, phái đòan Nguyễn Phú Trọng khi đi đã quang gánh nặng
nề với 4 Ủy viên Bộ Chính trị gồm Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng;
Phạm Bình Minh, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Đại tướng Ngô
Xuân Lịch, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an.
Cộng vào đó là Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu
tư; Nguyễn Xuân Cường, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Trần
Tuấn Anh, Bộ trưởng Bộ Công Thương.
Nhưng căn cứ vào những gì họ thu họach được thì khi về chỉ
thấy họ thua thiệt và vác những chiếc thúng không.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét