Biên dịch: Vương Thảo Vy | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Nguồn: Zachary Abuza (2001). “The Nhan Van–Giai Pham Affair,
the 1967 Purge, and the Legacy of Dissent”,
in Z. Abuza, Renovating Politics in Contemporary Vietnam (London: Lynne
Rienner Publisher). [1]

Những kiếp người sống lâu trăm tuổi
Y như một cái bình vôi,
Càng sống càng tồi.
Càng sống càng bé lại.
Phan Khôi
Từ ngày đất nước thống nhất năm 1975 đến Đại hội Đảng lần thứ
Sáu vào tháng Mười Hai năm 1986 khi chương trình cải cách kinh tế được tiến
hành, hầu như không tồn tại bất cứ mối bất đồng nào trên cả nước, ngoại trừ những
cựu thành viên chống cộng sản của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Nhưng ngay cả mối bất
đồng này cũng bị hạn chế vì sự độc đoán và những cuộc trừng trị không nương tay
ngày càng mở rộng của chính phủ đối với những kẻ thù trước đây. Những người
không bị “học tập cải tạo” và đưa đến “những vùng kinh tế mới” (hơn 300.000 người)
sẽ bị hăm dọa buộc phải phục tùng nhà nước. Những nguyên nhân của mối bất đồng
xuất hiện trong suốt thời kỳ đổi mới có nguồn gốc từ trước ngày đất nước thống
nhất, và cũng cần xem xét một bối cảnh lịch sử đặc biệt liên quan đến hai sự kiện
nhằm giải thích cho mối bất đồng trong thời kỳ đương đại.
Sự kiện đầu tiên liên quan đến việc đối xử đối với các trí
thức gia, tác giả, nhà thơ, và văn nghệ sỹ – những người đã gia nhập hàng ngũ
Việt Minh trong những năm 1940-1950 nhưng sau đó đã bị thanh trừng vì yêu cầu
đòi mở rộng quyền tự do trí thức, bao gồm quyền được xuất bản các tác phẩm độc
lập. Thực tế cho thấy rất nhiều trong số những nhà trí thức này vẫn là những
nhân vật đi đầu trong các hoạt động chống đối trong thời điểm hiện tại trong
khi những vấn đề và yêu sách tương tự tiếp tục vẫn còn dư âm.
Sự kiện thứ hai là cuộc thanh trừng nội bộ Đảng vào giữa đến
cuối những năm 1960 mà trong đó những người chống lại chính sách leo thang chiến
tranh chống Mỹ sẽ bị thanh trừng vì đã vi phạm những nguyên tắc của chế độ tập
trung dân chủ. Những đảng viên nào đưa ra bất cứ phương án khác cho cuộc chiến ở
miền Nam mà đi ngược lại với chủ trương không khoan nhượng của những nhà cầm
quyền sẽ bị ngược đãi không thương xót, điều này đã vô hình chung chấm dứt những
cuộc tranh luận công khai và ý nghĩa trong nội bộ đảng. Từ năm 1967 đến khi
chính sách Đổi Mới được thực hiện, tất cả quá trình ra quyết định bị giữ độc
quyền trong tay của những nhà lãnh đạo mà không ai dám chống đối hoặc có ý nghi
ngờ, do đó đã tạo ra sự trì trệ trong chính sách nhà nước và chính sách đối ngoại.
Mặc dù sự kiện Nhân Văn – Giai Phẩm và cuộc thanh trừng nội bộ đảng vào năm
1967 đã được phân tích một cách thấu đáo trong các tác phẩm khác, nhưng tác giả
vẫn sẽ bàn luận hai sự kiện trên trong bài viết này.
Chúng chính là những sự kiện đầu tiên và mang tính cấu thành
nhất đối với tình trạng bất đồng chính kiến dưới sự cầm quyền của Đảng Cộng sản,
và những vấn đề được những người chống đối đưa ra vào những năm 1950-1960 cho đến
giờ vẫn không thay đổi. Di sản của những sự kiện này mang tính thu hút, và
chúng đã trở thành điểm quy tụ cho những người chống đối ngày nay: sự kiện Nhân
Văn – Giai Phẩm như là một biểu tượng của sự thất bại của đảng trong lời hứa sẽ
mang lại tự do cho giới trí thức, và cuộc thanh trừng nội bộ đảng chính là dấu
chấm hết cho nền dân chủ nội đảng và dập tắt tư duy trong quá trình ra quyết định.
Cuối cùng là, cách thức mà chế độ đáp trả đối với những sự kiện này, ngay cả thời
điểm hiện tại, cho ta thấy về tình trạng cải cách chính trị tại Việt Nam.
Sự kiện Nhân Văn –
Giai Phẩm
Bối cảnh sự kiện
Năm 1950, vào giữa cuộc chiến chống Pháp của Việt Minh, Hồ
Chí Minh đến Trung Quốc và ký kết thỏa thuận viện trợ quân sự với nhà lãnh đạo
cộng sản mới của Bắc Kinh. Khi viện trợ quân sự được đưa vào, thì dòng chảy ồ ạt
các thể chế, cải cách và lực lượng cố vấn mang phong cách Trung Quốc cũng từ đó
mà tràn vào. Một chiến dịch gấp gáp được khởi động để học tập kinh nghiệm cách
mạng của Trung Quốc, và 200.000 bản sao của 43 cuốn sách của Đảng Cộng Sản
Trung Quốc đã được dịch và in ra. Các thể chế kinh tế và chính trị Trung Quốc
ngày càng phổ biến. Trước năm 1952, có gần 7.000 binh sĩ và cố vấn Trung Quốc
hiện diện tại Bắc Bó (một chiến khu phía Bắc). Trong giai đoạn 1949-1954, Trung
Quốc huấn luyện và trang bị cho gần 50.000 bộ đội Việt Nam tại các doanh trại ở
Vân Nam và Quảng Tây thành lập vào mùa xuân năm 1950. Theo đề xuất của Trung Quốc,
Đảng Lao Động mang tính xã hội chủ nghĩa được công khai thành lập vào tháng Hai
năm 1951, sự kiện này đã chấm dứt cáo buộc cho rằng Việt Minh là một tổ chức chống
thực dân có cơ sở rộng khắp mà lại không có điểm tựa về mặt tư tưởng.[2] Theo
như một nhà sử học, Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh, tác phẩm
đặt ra cuộc cách mạng ba giai đoạn cho chiến tranh, lại “gần như ăn cắp ý tưởng
của chủ nghĩa Mao.”[3] William Duiker đã ghi nhận một cách súc tích rằng đường
hướng lãnh đạo của Việt Minh đơn thuần là để “vuốt ve cái tôi của những nhà
lãnh đạo Trung Quốc” bởi vì sự trợ giúp của họ là hoàn toàn thiết yếu.[4]
Chiến dịch chỉnh huấn khổng lồ trong nội bộ Đảng (hay Cheng
feng theo tiếng Hoa), lấy hình mẫu của chiến dịch Diên An tại Trung Quốc, đã được
khởi động và hàng ngàn cán bộ bị thanh trừng; số lượng Đảng viên giảm từ 50.000
trong năm 1950 xuống còn 40.000 vào năm 1954. Chiến dịch cải cách ruộng đất hai
giai đoạn bắt chước mô hình của Trung Quốc cũng được tiến hành. Giai đoạn ôn
hòa từ năm 1953 đến năm 1954 nổi bật là việc giảm tô, theo sau đó là giai đoạn
thay đổi rõ rệt hơn từ năm 1954 đến năm 1956 với việc tái phân phối một khối lượng
lớn tài sản ở phía Bắc.[5] Đây là hồi chuông cảnh báo giới trí thức bởi vì hầu
hết trong số họ đều có vài mối liên hệ đến tầng lớp có ruộng đất “phong kiến”
và “phản động”.[6] Vào tháng Ba năm 1953, chính phủ quyết định và ban hành một
danh sách đặt tên các giai cấp trong xã hội, trong đó chính phủ nỗ lực làm dịu
đi nỗi sợ hãi bằng cách khẳng định rằng “giới trí thức không tự họ hình thành
nên một tầng lớp riêng” mà địa vị của họ dựa trên “thành phần” của gia đình. Bởi
vì nhiều trí thức gia được xếp vào thành phần “kẻ thù giai cấp”, nên ngược lại
cũng có một thành phần mới được tạo ra, đó là “cá nhân tiên tiến”, danh hiệu
này sẽ được cấp cho ai ngoài việc phục vụ cho cách mạng còn tình nguyện giao nộp
toàn bộ của cải cho chính phủ.
Trong khi sự trợ giúp về mặt hậu cần từ phía Trung Quốc là cần
thiết, thì một nhiệm vụ cũng không kém phần quan trọng đối với công cuộc đấu
tranh chống thực dân của Việt Minh là thu phục được sự đồng lòng của giới trí
thức. Nhiều trí thức gia cảm thấy họ không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải
lên Việt Bắc và tham gia cách mạng; nếu không làm như vậy, họ sẽ bị đánh đồng với
việc bắt tay với giặc Pháp. Một số lượng lớn các trí thức gia tham gia Việt
Minh vì lòng yêu nước, chứ không phải vì chủ nghĩa cộng sản. Thực tế cho thấy
vì các nhà lãnh đạo Việt Minh cố gắng che giấu đi những mối liên hệ với chủ
nghĩa cộng sản của tổ chức này, bằng cách trên danh nghĩa giải tán Đảng Cộng Sản
Đông Dương vào năm 1946, nên rất có thể nhiều nhà trí thức tin theo lời Hồ Chí
Minh từng công khai cho rằng đây là một tổ chức theo chủ nghĩa dân tộc chứ
không phải cộng sản. Thật vậy, một học giả miền Nam Việt Nam có luận điểm cho rằng
giới trí thức “được động viên bởi hy vọng rằng họ có thể dùng tổ chức kháng chiến
này để tập hợp các phần tử dân tộc và tạo nên một lực lượng có thể điều chỉnh
cán cân chống lại những người cộng sản trong số những thành viên tham gia kháng
chiến.[7] Dù cho lý do có là gì đi nữa thì các nhà trí thức cũng tham gia cuộc
đấu tranh chống thực dân với đầy nhiệt huyết.
Ngay từ buổi ban đầu, [các nhà văn] đã dốc hết tâm huyết và
sức lực cho tất cả các hoạt động mà đất nước kêu gọi sự giúp sức của họ trong
thời chiến. Họ sát cánh với những người phu và nông dân để chiến đấu chống lại
kẻ thù của đất nước. Họ chia sẻ với những con người này đời sống khổ cực trong
rừng rậm, và cũng như thế, họ sống và làm việc trong bầu không khí ngập tràn
lòng yêu nước.[8]
Nhưng ngay từ buổi ban đầu, Đảng đã kiên quyết kiểm soát giới
trí thức và ngăn cản họ khỏi tình trạng quá độc lập. Dựa trên tác phẩm của Mao,
Lenin, và Maxim Gorky,[9]các văn nghệ sỹ Việt Nam bị bắt buộc phải chấp nhận những
nguyên lý của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và phải xem xét lại lập trường
tư tưởng của mình. Trong một bài phát biểu năm 1948, Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản
Trường Chinh đã yêu cầu văn học và văn hóa “phải duy trì lòng trung thành hoàn
toàn với Tổ quốc và cuộc kháng chiến.”[10]
Năm 1951 chứng kiến hai ràng buộc sâu sắc hơn đối với giới
trí thức: Ràng buộc đầu tiên chính là việc đưa vào “chế độ tập trung dân chủ”
như là quy trình hoạt động trung tâm của Đảng. Nguyên tắc này trở thành mối
liên kết giữa giới tinh hoa và quần chúng: một khi Đảng đã đưa đến một quyết định
nào đó thì không có bất cứ sự chống đối nào được chấp nhận. Sau đó, trong một bức
thư gửi đến giới nghệ sỹ và trí thức vào năm 1951, Hồ Chí Minh đã sử dụng ngôn
từ mà Mao đã sử dụng trong buổi nói chuyện với giới trí thức tại Diên An, trong
đó nhà lãnh đạo Trung Quốc đã làm rõ rằng “thực tế không có nghệ thuật vị nghệ
thuật, không có nghệ thuật đứng trên giai cấp, không có nghệ thuật tách rời hoặc
độc lập với chính trị. Văn học và nghệ thuật vô sản là một phần của toàn bộ lý
tưởng đấu tranh cách mạng của giới vô sản.”[11] Ông giải thích cho giới trí thức
về khái niệm của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. “Để hoàn thành nhiệm vụ
của mình, người chiến đấu trên mặt trận văn hóa cần có một lập trường chính trị
vững vàng và một hệ tư tưởng đúng đắn: Nói tóm lại, anh phải đặt lợi ích của cuộc
cách mạng, của quốc gia và dân tộc lên trên tất cả.”[12] Để thực hiện được mục
tiêu này, Hồ Chí Minh lập luận rằng “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động
khác không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị.”[13] Kết quả
là, những hình thức thay đổi sự thật hoặc nguyên tắc từ ngữ ngữ pháp tiêu chuẩn
trong các tác phẩm nghệ thuật bị hạn chế, và theo như học giả người Pháp
Georges Boudarel, “những tác phẩm của họ được kỳ vọng xoay quanh những đặc tính
điển hình và phục vụ kịp thời cho các đòi hỏi về mặt chính trị của phong trào.
Từ phổ biến hay dùng là từ “căm thù”: căm thù đế quốc nước ngoài và phong kiến
bản địa hoặc những điền chủ.”[14]
Những bó buộc đối với giới văn nghệ sỹ này, cùng với việc
thi hành những khía cạnh khác của chủ nghĩa cộng sản, “đã đẩy một làn sóng trí
thức gia khổng lồ tới khu vực thuộc quyền kiểm soát của Pháp.”[15] P.J.Honey khẳng
định rằng “càng áp dụng nhiều nguyên lý từ những người cộng sản Trung Quốc, thì
hàng ngũ những trí thức gia bị vỡ mộng ngày càng nhiều, điều này loại bỏ đi những
thành phần tham gia hoạt động kháng chiến.”[16] Những người nào còn trụ lại gần
như chỉ có việc sáng tác cho chiến dịch văn chương của Việt Minh và phải chịu đựng
những nguyên lý khắt khe của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Trong một nỗ lực lớn hơn nhằm bắt giới tri thức phải chịu sự
kiểm soát của Đàng, người ta đã gây áp lực để giới này phải gia nhập đảng. “Họ
bị đe dọa rằng nếu từ chối tư cách thành viên, họ sẽ bị lên án là những kẻ phản
động, cùng lúc đó, họ cũng được dụ dỗ gia nhập bởi lời hứa về những ưu đãi đặc
biệt.”[17] Tuy nhiên, ngay cả những người trí thức ở lại chiến khu và gia nhập
Đảng cũng phải chịu đựng chiến dịch học tập cải tạo dẫn đầu bởi “những cán bộ
văn hóa cộng sản đặc biệt” – những người đã từng được “chỉ dẫn bởi ‘những người
đàn anh ở phía bên kia đường biên giới’ [các cán bộ Trung Quốc] trong ‘hệ thống
nghệ thuật và văn chương Trung Quốc.’”[18]
Nhìn chung, hầu hết các trí thức gia trụ lại là do những lý
do xuất phát từ lòng yêu nước. Cuộc kháng chiến chống Pháp chính là một động cơ
thúc đẩy thực sự. Vì muốn giành độc lập, các văn nghệ sỹ sẵn sàng chấp nhận chủ
nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và mệnh lệnh của đảng buộc công việc của họ phải
là một phần trong toàn bộ phong trào kháng chiến lãnh đạo bởi Đảng Lao Động. Họ
chấp nhận sự kiểm soát, kiểm duyệt của Đảng và hy sinh một phần tự do cho nền độc
lập dân tộc. Như một nhà chống đối hàng đầu từng viết:
Khi Hội [văn hóa cứu
quốc] ở Việt Bắc thì đường lối hoạt động dường như rất đơn giản. Để phục vụ đất
nước dân tộc, và trên hết là cuộc kháng chiến cấp bách, thì phải tuân theo chủ
nghĩa Mác. Không thể cho rằng các văn nghệ sỹ lúc bấy giờ hoàn thành đúng và đủ
hoàn toàn các nhiệm vụ được giao, nhưng có một điều chắc chắn rằng họ nỗ lực hết
mình để đi theo đường lối hoạt động nói trên. Liệu họ có bao giờ cảm thấy bất
mãn với cấp trên của mình? Rất hiếm hoi. Hoặc nếu có đi chăng nữa, họ cũng
không để tâm lắm đến điều đó vì tâm hồn của họ đã đắm chìm trong cuộc kháng chiến
gian khó mà vĩ đại. Họ không có thì giờ rỗi rãi để nghĩ đến các vấn đề khác nữa.[19]
Con người họ tràn ngập niềm tự hào và lửa nhiệt tình với
mong muốn xây dựng một Việt Nam mới độc lập, và họ tin rằng chính việc phục vụ
cách mạng sẽ mang lại cho họ tự do sáng tác. Họ mong muốn rằng, sau cuộc kháng
chiến, họ sẽ nhận được tự do nhiều hơn cả dưới thời Pháp và sự can thiệp của đảng
vào văn học nghệ thuật cũng sẽ chấm dứt.
Vào thời kỳ đầu tình hình cho thấy họ có vẻ sẽ được tự do. Đảng
Lao Động gửi các cán bộ văn hóa đến Hà Nội vào tháng Chín năm 1954 để thuyết phục
những người đã rời khỏi Việt Bắc thôi không chuyển vào miền Nam trong khoảng thời
gian 300 ngày như hiệp định Geneva đã cho phép. Để lấy lại sự ủng hộ của giới
trí thức, vào năm 1954-1955 Đảng Lao Động đã thực hiện một đường lối mang tính
tự do đối với những trí thức và chuyên gia đã phục vụ cho Pháp; những người nào
ở lại miền Bắc được đối xử rất tốt, thường kiếm được nhiều hơn những người cùng
với Đảng Lao Động vào Hà Nội vào năm 1954.[20] Tố Hữu, một trí thức hàng đầu của
đảng, đã thông báo một chính sách hòa giải vào năm 1955: “Đảng có thể cung cấp
sự lãnh đạo trí thức để chống lại kẻ thù, nhưng hiện nay là giai đoạn cho công
việc mang tính xây dựng. Đảng có thể sẽ không lãnh đạo nữa, mà nên nhường đường
cho giới trí thức.”[21] Nhưng cùng thời điểm đó, Đảng Lao Động buộc tất cả văn
nghệ sỹ phải gia nhập Hội Văn Nghệ chính thức. Cuộc trấn áp bắt đầu.
Loạt đạn mở màn
Tình trạng bất đồng bắt đầu khi Trần Dần, một tác giả quân đội
đồng thời là Đảng viên, đã viết một cuốn sách phóng sự về trận chiến Điện Biên
Phủ vào tháng Hai năm 1955. Sau này Bảo Ninh và Dương Thu Hương có các tác phẩm
tương tự vào những năm 1990, các nhân vật trong tác phẩm của ông không phải là
những hình mẫu anh hùng chủ nghĩa xã hội mà đảng đã ra lệnh phải theo. Quyển
sách là bức chân dung phác họa cuộc sống khổ cực bên trong chiến hào nơi hầu
như không thấy bằng chứng cho thấy sự thắng lợi của cuộc chiến hay tính đúng đắn
của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên ông đã được cử đến Trung Quốc để viết
kịch bản phim; ở đó ông đã trải qua một cuộc tranh cãi quyết liệt với viên
chính ủy người đã được gửi đến làm việc với ông. Trần Dần trở về nước với tâm
trạng thất vọng và đã tập hợp một nhóm các nhà trí thức có cùng tư tưởng trong
nội bộ quân đội mà mục tiêu của họ là thuyết phục các lãnh đạo đảng trả lại cho
họ sự tự do sáng tác. Họ mong muốn đòi lại sự tự do không chỉ từ các nhân viên
kiểm duyệt quân đội mà còn từ các viên chính ủy của đảng. Theo như cương lĩnh
được soạn thảo và đệ trình cho Ban chấp hành Trung ương vào năm 1955 của Trần Dần
và gần 30 các trí thức gia khác,
Biểu hiện cao nhất
về trách nhiệm của một tác giả là sự tôn trọng và trung thành của anh ta đối với
sự thật… Sự thật, với phạm vi của nó, vượt qua tất cả những chỉ thị, tất cả lý
thuyết…Nếu nó đi ngược lại một kế hoạch hoặc mệnh lệnh nào đó, các tác giả cần
bám theo sự thật, không bóp méo nó cũng như không được ép sự thật vào khuôn khổ
chính trị… Cách mạng không cần bất cứ nhà tông đồ nào để đốt hương và ca tụng
các kế hoạch và cũng chẳng cần đến các vị pháp sư cúng tế khi họ vỗ chiêng và tụng
kinh cầu…Ngày nay, người ta tìm thấy trong văn chương của chúng ta khá nhiều kỹ
xảo (và ngay cả bộ mặt đạo đức giả).[22]
Ông lập luận rằng “một tác giả phải được cho phép sự tự do gần
như hoàn toàn trong việc lựa chọn chủ đề, nhân vật, phong cách thể hiện thái độ
và cảm xúc. Tất cả trở ngại và hạn chế phải bị bài trừ như những kẻ thù của chủ
nghĩa hiện thực.” Trong thời gian ở Trung Quốc, Trần Dần chịu ảnh hưởng bởi một
nhân vật trong nền văn chương Trung Quốc là Hồ Phong, người muốn mở rộng những
biên giới có thể chấp nhận được của văn học. Khi trở về, Trần Dần đã viết, “Tại
sao không có ai viết về các quan chức chính phủ chẳng hạn? Hoặc về tình yêu? Tại
sao cứ phải giới hạn các nhân vật vào vai những cá nhân mang thân phận người
công nhân hoặc nông dân? Chủ nghĩa hiện thực khuyến khích hàng trăm trường phái
cùng phát triển mạnh.”[23] Những lời tấn công thẳng thắng như vậy vào sự kiểm
soát của đảng đã khơi dậy khí phách trong lòng giới trí thức, những người đã tập
hợp lại để bảo vệ cho ông. Phan Khôi, cha đẻ của nền thơ ca hiện đại Việt
Nam,[24] khi đó 70 tuổi, đã viết “mỗi người trong chúng ta sở hữu nghệ thuật của
chính bản thân mình và phản ánh tính cách của chúng ta trong đó. Chỉ có loại
hình nghệ thuật và tính cách này mới có thể tạo ra quang cảnh trăm hoa đua nở.
Trái lại, nếu các tác giả bị ép buộc phải viết theo cùng một phong cách, thì sẽ
có ngày tất cả loài hoa đó sẽ trở thành hoa cúc vạn thọ hết thảy.”[25]
Một nhà trí thức khác, Lê Đạt, đã than phiền rằng hiện thực
xã hội chủ nghĩa giống như:
Việc đặt các đồn cảnh sát và máy móc thiết bị
vào giữa trái tim con người
Việc buộc cảm xúc
phải thể hiện theo như một bộ quy tắc mà chính phủ ban hành.
Phản ứng ban đầu của đảng đối với Trần Dần và những nhà chống
đối khác là đặt họ trong chế độ quản thúc tại gia và sau đó cải tạo họ.[26] Tố
Hữu, nhà thơ của chính phủ, sau đó đã phát động một chiến dịch nhằm tái củng cố
đời sống của giới trí thức với những nguyên lý của chủ nghĩa hiện thực xã hội
chủ nghĩa. Tố Hữu yêu cầu các nhà trí thức phải tuân thủ nghiêm ngặt các tham số
được quy định trong bài phát biểu của chủ tịch Mao tại Diên An: “những nhân vật
mang tính tích cực,” “những anh hùng cách mạng,” và “nông dân và công nhân như
lực lượng tiên phong.” Nói tóm lại, Tố Hữu kêu gọi sự tổng hợp không thỏa hiệp
giữa chính trị và nghệ thuật bởi vì “nội dung quyết định hình thức.”
Trong khi nhiều nhà trí thức ý thức được tương lai không
lành sẽ xảy ra và tuân theo đường lối của đảng thì những người khác lại tạm
lánh mặt cho đến đầu năm 1956 khi tuyển tập mang tên Giai Phẩm Mùa Xuân được xuất
bản. Tính táo bạo của tạp chí này, trong đó bao gồm một bài thơ Trần Dần viết
nhằm miêu tả tình trạng tệ hại không thể chấp nhận được ở miền Bắc, đã làm chất
xúc tác cho các nhà trí thức khác.[27] Khi đảng trao giải Nhất Giải thưởng Văn
học vào năm 1954-1955 cho một tác phẩm chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa tầm
thường của nhà thơ trung thành với đảng – Xuân Diệu, giới trí thức nổi dậy.[28]
Tại Hội nghị tháng Tám năm 1956 của Hội Văn nghệ, các nhà
trí thức công khai đòi quyền tự do nhiều hơn, cũng giống như đồng sự của họ ở
Trung Quốc và Liên Xô tại thời điểm đó. Ở Trung Quốc, Lục Định Nhất kêu gọi
“phá vỡ sự trì trệ trong hoạt động của giới trí thức ở Trung Quốc” trong bài
phát biểu “Trăm hoa” của ông. Cụ thể là ông đã yêu cầu Đảng Cộng sản Trung Quốc
cho phép “sự tự do trong suy nghĩ độc lập về hệ tư tưởng, các hoạt động nghiên
cứu khoa học và nghệ thuật; tự do ngôn luận; tự do tham gia vào các công việc
sáng tạo và phê bình tác phẩm của những người khác; tự do bày tỏ ý kiến; và tự
do thu lại ý kiến.” Các học giả cũng bàn luận về những thay đổi trong chính
sách của Xô Viết đối với giới trí thức kể từ Đại hội lần thứ Hai mươi của Đảng
Cộng Sản Liên Xô khi Khrushchev đưa ra bài phát biểu phi Stalin hóa của mình.
Trong một nỗ lực nhằm ngăn chặn làn sóng chỉ trích, Hoài
Thanh – một quan chức cao cấp của đảng đã xuất bản một bài viết tự phê bình
trong tuần báo Văn Nghệ. Nhưng đã quá trễ, giới trí thức bắt đầu xuất bản tạp
chí riêng của họ dựa trên triết lý của trí thức gia đối kháng Trung Quốc Hồ
Phong, người đã cho rằng “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa cần phải chuyển
sang khía cạnh con người và khẳng định bản thân như một loại hình của chủ nghĩa
nhân văn.” Vào ngày 15 tháng Chín năm 1956, tạp chí Nhân Văn độc lập đã được cấp
phép xuất bản. Biên tập bởi Phan Khôi, Nhân Văn xuất bản năm lần từ 20 tháng
Chín đến 20 tháng Mười Một năm 1956. Trong giai đoạn đó, Đảng Cộng Sản Việt Nam
đã chấp nhận trong thời gian ngắn sự thẳng thừng của các tác giả và biên tập
viên.
Càng nhiều thứ thay đổi…
Ngoài nhu cầu tự do sáng tác và quyền tự do thành lập các ấn
phẩm độc lập mà không chịu sự kiểm soát và kiểm duyệt của đảng, những người bất
đồng ý kiến còn có rất nhiều khiếu nại khác. Cũng giống như nhiều đồng nhiệp của
họ vào những năm 1990, giới trí thức những năm 1950 rất cẩn trọng trong việc
thách thức chủ nghĩa xã hội hoặc sự độc quyền về quyền lực của đảng. Theo
Georges Boudarel, một học giả hàng đầu trong nghiên cứu phong trào này: “Nhưng
họ không đồng ý việc đánh đồng chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa nhất thể
(monolithism), và chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa toàn trị
(totalitarianism).”[29]
Phần lớn nhu cầu của họ tập trung vào vấn đề “sự thật” và
tính hợp pháp của các nguồn thông tin độc lập và thay thế. Các nhà đối kháng hiểu
sự cần thiết của công tác tuyên truyền, nhưng họ cũng cảnh giác trước việc Đảng
sẽ diễn dịch sai hoặc nói dối về các sự kiện nhằm thúc đẩy các mục tiêu của mình.
Phùng Quán đã yêu cầu một cách rõ ràng về sự minh bạch trong một bài thơ nổi tiếng
(Lời mẹ dặn – ND):
Con ơi một người
chân thật
Thấy vui muốn cười
cứ cười
Thấy buồn muốn
khóc là khóc.
Yêu ai cứ bảo là
yêu
Ghét ai cứ bảo là
ghét
Dù ai ngon ngọt
nuông chiều
Cũng không nói yêu
thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa
giết
Cũng không nói
ghét thành yêụ.[30]
Tương tự như vậy, Trần Lê Văn giải thích cho sự thiếu thốn
các nguồn thông tin thay thế là do tính thiếu trách nhiệm tai hại và lạm dụng
quyền lực của đảng. “Nếu như các cuộc phê bình công khai được áp dụng sớm hơn
trong công chúng và báo giới, mà trong đó ai cũng có thể thẳng thắn nói ra điều
họ nghĩ để các nhà lãnh đạo của chúng ta dần dần nói ra sự thật từ những dối
trá trong việc thực hiện các chính sách, thì nhiều thảm họa đã có thể tránh được.”[31]
Sai lầm tối quan trọng chính là chương trình cải cách ruộng
đất đặc trưng bởi “sự nổi lên của phong trào nông dân bạo lực.” Những người chống
đối quan tâm đến thực tế là có ít tính hợp pháp ở khu vực nông thôn hơn là ở Hà
Nội – khu vực trong tầm kiểm soát của Pháp: Bài xã luận của Nguyễn Hữu Đang
trong kỳ 4 tạp chí Nhân Văn, vào ngày 5 tháng 11 năm 1956, đã nhắc lại lời tố
cáo của Khrushchev về việc sử dụng bạo lực và khủng bố của Stalin và Beria,
nhưng đồng thời cũng khẳng định rằng “Điều này ở xã hội ta không phải ai cũng
công nhận dễ dàng. Vì lòng khinh bỉ của chúng ta đối với pháp lý tư sản lớn quá
đến nỗi ở một số đông người nó đã trở thành lòng khinh bỉ pháp lý nói chung… Ít
luật lệ là một điều thuận tiện cho sự lạm quyền, độc đoán. [32]
Để thúc đẩy tạo dựng nên xã hội mang tính pháp trị hơn, giới
trí thức đã kêu gọi chỉnh sửa Hiến pháp, yêu cầu đảng trao tự do cho quốc hội,
và mong muốn một nhánh tư pháp được độc lập. Vị luật sư nổi tiếng, Nguyễn Mạnh
Tường, đã vạch ra bốn cuộc cải cách pháp lý cơ bản vào tháng 10 năm 1956 cần phải
được thực hiện để tránh những việc lạm dụng ngoài vòng pháp luật như đã xảy ra
trong suốt chiến dịch cải cách ruộng đất: thiết lập thời hiệu khởi kiện; chấm dứt
việc xử tội đồng lõa của gia đình và các thế hệ liên quan đến phạm nhân; thiết
lập một tiêu chuẩn cao hơn cho chứng cứ; và cung cấp quyền lợi cho người bị khởi
tố trong suốt thời gian điều tra. Theo ông, những trở ngại thêm vào đó là “sự
khinh bỉ đối với pháp lý – thứ đứng dưới quyền lực chính trị – và sự khinh bỉ đối
với các chuyên gia.”[33]
Các nhà phê bình cũng đề cập rất nhiều đến sự thiếu dân chủ,
sự chiếm hữu quyền lực trong tay một số ít nhân vật, và tình trạng trì trệ của
chính trị nói chung. Hai tác phẩm táo bạo nhất là của Phan Khôi và Lê Đạt, hai
tác giả viết về “ông bình vôi,” ống nhổ mà người nhai trầu vẫn sử dụng, được lấp
đầy bởi vôi để ngăn mùi; đến lúc vôi tích tụ, làm cho bình vôi trở nên vô dụng.
Sự ám chỉ Hồ Chí Minh và những nhà lãnh đạo hàng đầu của đảng trong tác phẩm
này đã làm cho đảng giận dữ:
Những kiếp người sống
lâu trăm tuổi
Y như một cái bình
vôi,
Càng sống càng tồi.
Càng sống càng bé
lại.
Phan Khôi đã viết một bài khảo cứu nhỏ dựa trên bài thơ bốn
câu này, đặt tên là “Ông bình vôi,” nhằm bổ sung thêm cho hình ảnh phúng dụ của
Lê Đạt. Trong bài viết này, ông kể khi còn là một cậu bé 18 tuổi ông đã “hất một
loạt ‘ông bình vôi’ thờ trên tường thành xuống đất. Sao lại làm như thế? Chúng
tôi cứ làm như thế, không cần có lý luận.” Ông đả kích những nhà lãnh đạo đảng
vô dụng và già cỗi: “Tóm lại, cái bình vôi, vì nó sống lâu ngày, lòng nó đặc cứng,
miệng nó bít lại, ngồi cũ rũ trên tran hoặc trên tường thành, cũng như pho tượng
đất hoặc gỗ không nói năng, không nhúc nhích, thì người ta tôn thờ sùng bái mà
gọi bằng ‘Ông’.”[34]
Đối tượng của sự đả kích rất rõ ràng. Hồ Chí Minh và các nhà
lãnh đạo đảng hàng đầu đã trở nên quá cứng nhắc và bảo thủ, cũng giống như những
bình vôi cũ, đã mất đi tính hữu dụng. Đã đến lúc cất họ vào kệ. Ở đó họ sẽ được
kính trọng, nhưng họ sẽ được thay thế bởi “những bình vôi” mới và có ích hơn.
Vì điều này mà Phan Khôi bị tố là kẻ phản động và người theo chủ nghĩa xét lại,
một người con người già nua suy yếu không thể vượt qua được “tâm tính tư sản” của
mình, nhưng bất chấp những sự tấn công này, ông tiếp tục biên tập tờ Nhân Văn
và Giai Phẩm để hỗ trợ cho những tác giả và trí thức trẻ. Để đáp lại lời cáo buộc
của nhiều người trong đảng rằng ông là kẻ phản cách mạng, ông đã viết một bài
thơ trong tạp chí Giai Phẩm kỳ số ba (tháng mười 1956):
Hồng nào hồng chẳng
có gai,
Miễn đừng là thứ hồng
rài không hoa.
Là hồng thì phải
có hoa,
Không hoa chỉ có
gai mà ai chơi?
Ta yêu hồng lắm hồng
ơi!
Có gai mà cũng có
mùi, hương thơm.
Tuy nhiên, Lê Đạt và Phan Khôi đứng trong hàng ngũ thiểu số
khác biệt, và rất ít người sẵn sàng đối kháng công khai với hệ tư tưởng của chủ
nghĩa cộng sản. Nhưng vẫn có một ngoại lệ, đó là Giáo sư sử học Đào Duy Anh,
người đã khẳng định rằng sự tuân thủ cứng nhắc của đảng đối với ý thức hệ sẽ giới
hạn lại phạm vi nghiên cứu và tri thức của đất nước và do đó làm chậm quá trình
tăng trưởng và phát triển. Trong một đoạn văn sẽ làm tấm gương cho các công
trình vào gần bốn thập kỷ sau đó của Phan Đình Diệu và Hà Sĩ Phu, Đào Duy Anh
có viết:
Ở nước ta thì bệnh
giáo điều và sùng bái cá nhân lại còn trầm trọng hơn, khiến người ta, vô luận
bàn về vấn đề gì, cũng đều phải bắt đầu dẫn những đề án của Mác-Ăng-ghen và
Lê-nin, hoặc những ý kiến của Sta-lin hay các lãnh tụ khác, để, hoặc phát triển
thêm những ý kiến ấy, hoặc g̣ò bó tài liệu, xoay sở thế nào để gán vào khuôn khổ
của những công thức rút ra tự những ý kiến ấy. Xin chỉ một cái tỷ dụ gần đây.
Như vấn đề phân kỳ của lịch sử Việt Nam và vấn đề hình thành dân tộc, chúng tôi
nhận thấy rằng nhiều người nghiên cứu không dám có ý kiến gì mới ngoài những điều
các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác hay các vị lãnh tụ đã nói về các vấn đề ấy.
Hễ thấy ai có ý kiến gì vượt ra ngoài những công thức cũ, những khuôn khổ sẵn có
thì người ta chụp ngay cho những cái mũ dễ sợ, như cái danh hiệu cải biến chủ
nghĩa chẳng hạn, những mũ như thế rất dễ bịt mồm bịt miệng người ta…Trong thực
tế thì sự thảo luận đã bị thủ tiêu từ gốc rồi. Nghiên cứu hay nghị luận một vấn
đề gì, nhiều người chỉ nơm nớp sợ không khéo thì chệch ra ngoài đường lối tư tưởng
chính thống độc tôn. Đối với những người ấy, công tác học thuật trở thành trò
xiếc leo dây. Con đường học thuật phải là con đường cái thênh thang mọi người tự
do đi lại, chứ không phải sợi dây căng của người làm xiếc. Phải trừ bỏ những bệnh
giáo điều và sùng bái cá nhân để trả lại tự do cho học thuật. Phải áp dụng
chính sách “bách gia tranh minh” mà Đảng Cộng sản Trung Quốc thi hành đối với
công tác nghiên cứu khoa học.”[35]
Tư tưởng chính thống không chỉ dẫn đến tình trạng trì trệ về
mặt tri thức và chủ nghĩa giáo điều, mà nó còn tạo ra một tầng lớp tinh hoa
hoàn toàn mới, một tầng lớp “bà la môn” bao gồm các đảng viên nào bắt đầu tách
mình ra khỏi quần chúng. Là cơ sở cho những tác giả những năm 1990, Hữu Loan tấn
công tầng lớp mới này qua bài thơ “Cũng những thằng nịnh hót,” trong đó ông cáo
buộc giai cấp thống trị mới, những người đã hành động cũng tương tự như những kẻ
thống trị thời phong kiến và thực dân mà họ đã thay thế, về việc trở thành một
thứ gì đó mà lẽ ra không nên tồn tại trong xã hội không giai cấp này.[36]
Phản ứng của Đảng
Các nhà lãnh đạo đảng bị chia rẽ trong việc giải quyết tờ
Nhân Văn, Giai Phẩm và những tạp chí chống đối khác. Nhiều người muốn miễn tội
cho giới trí thức này. Đặc biệt, quân đội khá cảm thông với nhu cầu của những
nhà trí thức có lẽ bởi vì bản thân Quân đội Nhân dân (QĐND) cũng cảm thấy đảng
can thiệp quá nhiều vào công việc riêng của mình. Nhiều người trong QĐND, cũng
như các nhà trí thức, cảm thấy lo lắng về sự quỵ lụy một cách mù quáng đối với
các mô hình và học thuyết Trung Quốc.[37] Thật vậy, một chính ủy tư tưởng trong
QĐND, Trần Độ, sau này trở thành người bất đồng chính kiến dẫn đầu vào những
năm 1990, đã cố gắng dàn xếp một thỏa hiệp với những người theo đường lối cứng
rắn của đảng đứng đầu bởi Tố Hữu và trợ lý của ông là Hoài Thanh.
Những người khác hoàn toàn không tin rằng giới trí thức có
thể là mối đe dọa với chế độ: những cuộc tấn công gay gắt từ trong nội bộ giới
này đã chọc giận nhiều người của đảng, nhưng dân chúng không mấy ai biết đến
các nhà trí thức cùng với những lời phê bình chỉ trích của họ. Bùi Tín cho rằng
phong trào được dung thứ vì tính cô lập của nó. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ
nghĩa, thường dưới dạng sách và phim Trung Quốc và Xô Viết, dễ tiếp cận với người
dân Việt Nam có trình độ trung bình hơn nhiều so với các tác phẩm của Lê Đạt và
Phan Khôi. Như Bùi Tín ghi lại, “Những ngày đó không ai có thể sở hữu các bản
Nhân Văn hoặc Giai Phẩm để có thể tự hiểu được vấn đề ồn ào lúc bấy giờ.”[38] Lời
kêu gọi của những nhà bất đồng chính kiến phần nào không tới được phần lớn dân
chúng bởi vì gần 90 phần trăm dân cư là nông dân mù chữ hoặc bán mù chữ.
Tuy nhiên, những người theo đường lối cứng rắn trong đảng đã
giành phần thắng, vào tháng Hai năm 1956 cuộc đàn áp không nương tay bắt đầu với
việc bắt giam Trần Dần và các đồng nghiệp của ông. Mặc dù đảng tiến hành hàng
loạt các chiến dịch công khai bài trừ các tác phẩm của ông, nhưng để theo kịp
trào lưu của thế giới cộng sản như bài phát biểu phi Stalin hóa của Khruschev
và bài “Trăm hoa” của Lục Định Nhất, đảng đã cho phép Nhân Văn, Giai Phẩm và
các tạp chí khác được xuất bản vào mùa hè và mùa thu năm đó (Nhân Văn được xuất
bản năm lần từ 20 tháng 9 đến 20 tháng 11). Học giả người Nhật Hirohide
Kurihara đã lập luận rằng trong suốt giai đoạn này thật ra đảng đã thừa nhận những
sai lầm trong chính sách văn chương.[39] Ví dụ, tạp chí lý thuyết của đảng, Học
Tập, đã công nhận những vấn đề nêu ra trong Nhân Văn và Giai Phẩm “phần nào phản
ánh được thực tế,” và một bài viết trong nhật báo của đảng, Nhân Dân, đã nói rằng
chính sách “Trăm hoa” “nhìn chung là đúng.”[40]
Việc đơn thuần khơi lên những vấn đề văn chương không thể đe
dọa được những người trong đảng. Điều làm cho đảng sợ là việc phong trào đang
tìm cách biến mình thành một tổ chức đối lập với đảng một cách độc lập, lâu
dài, trung thành và có tổ chức. Như Chu Ngọc – một biên tập viên – đã tổng kết
lại trong tờ Nhân Văn kỳ ba: “Chúng tôi cố gắng đấu tranh trong tổ chức, song
liên tục chúng tôi bị chế ngự, nguyện vọng của chúng tôi lên tới Trung ương Đảng
đã bị thay thế bằng nguyện vọng của bè phái họ.”[41] Khi các chỉ trích trên các
tạp chí mang tính chính trị nhiều hơn và định hướng văn chương ít lại thì nhiều
thành viên trong đảng muốn khơi dậy một cuộc đàn áp.
Những tác nhân bên ngoài đã thay đổi tình hình trong nội bộ
đảng khi chính quyền Xô Viết nghiền nát cuộc nổi dậy tại Hungari vào tháng Mười
Một năm 1956, trong khi đó Trung Quốc đang ở giữa phong trào “chống cánh hữu.”
Trong kỳ báo Nhân Dân ra ngày 16 tháng Chín năm 1956, Lê Duẩn cho xuất bản một
bài viết có tên “Đập tan phe cánh hữu,” bài viết này là một sự mô phỏng rõ ràng
lại cuộc đấu tranh được phát động tại Trung Quốc chống lại Đinh Linh và các trí
thức gia đã lên tiếng chỉ trích trong suốt phong trào Trăm hoa. Trong bài báo,
Lê Duẩn đã ghi “quyền [chính trị] là một loài cỏ dại độc hại và [chúng ta cần]
biến nó thành phân bón để cải thiện đất trồng lúa của chúng ta.”[42] Vào tháng
Mười Một, báo Nhân Dân đã đặt tên cho phong trào nổi dậy ở Hungary là cuộc phản
cách mạng,[43] và một hội nghị vào tháng Mười Hai của các đảng cộng sản tại
Matxcơva đã dẫn đến kết quả là các hệ tư tưởng trở nên cứng rắn hơn và việc đàn
áp tất cả kẻ thù của chế độ chuyên chính vô sản được biện minh.
Các nhân tố bên trong cũng có tác dụng, cụ thể là công cuộc
cấp tiến hóa của xã hội trong suốt chiến dịch cải cách ruộng đất tàn bạo giai
đoạn 1954-1956. Đảng Lao Động “giải phóng sức mạnh của quần chúng để tiêu diệt
tầng lớp địa chủ,” đây là một chiến dịch làm cho nhiều người căm phẫn và tổn hại
rất nhiều đến khu vực nông thôn. Quá trình tập thể hóa nông nghiệp được thực hiện
vào năm 1956 dưới sự lãnh đạo của Trung Quốc, và các chiến thuật của Trung Quốc
như tòa án nhân dân, chiến dịch chống lại địa chủ, vận động quần chúng, đặt tên
giai cấp, và hành quyết hàng loạt đã được áp dụng một cách sốt sắng.[44]
Và tất nhiên tồn tại một mối quan ngại về việc thống nhất đất
nước vốn đã bị chia cắt từ giữa năm 1954. Có người lo sợ rằng nếu các trí thức
gia trở nên quá thẳng thắn và tập hợp được một diễn đàn công cộng thì họ sẽ sử
dụng nó để xúc tiến các quan điểm của họ, và sau đó họ sẽ bị chính quyền Ngô
Đình Diệm ở miền Nam sử dụng cho hoạt động tuyên truyền và làm mất uy tín chính
phủ Bắc Việt Nam.[45] Theo Hiệp định Geneve ký năm 1954, các cuộc bầu cử sẽ được
tổ chức trong vòng hai năm – đây là một quyết định mang tính thỏa hiệp, bởi vì
trước đó Hà Nội đã muốn tổ chức bầu cử ngay lập tức nhằm tận dụng thế áp đảo của
Việt Minh. Mặc dù các cuộc bầu cử ngày càng khó xảy ra, nhưng hy vọng vẫn chưa
bị dập tắt, Đảng vẫn muốn duy trì sự ủng hộ cao độ của nhân dân – đặc biệt là ở
miền Bắc – kể từ khi mạng lưới Việt Minh và cơ sở hỗ trợ nhanh chóng bị xóa sổ
bởi Diệm và em trai của ông là Ngô Đình Nhu ở miền Nam.
Ảnh hưởng thực của sức ép quốc tế và nhu cầu chính trị trong
nước là một phản ứng hai mũi nhọn tấn công. Đầu tiên là cuộc đàn áp đối với những
người bất đồng chính kiến, bao gồm cả việc các ấn phẩm của họ bị tịch thu và những
nhà lãnh đạo phong trào bị bắt và cho đi cải tạo. Hai là chiến dịch văn học mạnh
mẽ dẫn đầu bởi giới trí thức trung thành với đảng và mệnh lệnh của chủ nghĩa hiện
thực xã hội chủ nghĩa.
Chiến dịch bắt đầu khi tạp chí Nhân Văn bị đóng cửa vào
tháng Mười Một năm 1956 sau một cuộc đình công có tổ chức của công nhân xưởng
in, trước khi số báo thứ sáu được xuất bản. Tạp chí Giai Phẩm cũng bị đóng cửa
chỉ sau khi phát hành bốn số (Tháng Ba, Tháng Tám, Tháng Mười, Tháng Mười Hai
năm 1956). Các nhà xuất bản của cả hai tờ báo đều bị bắt, còn Phan Khôi qua đời
tại Hà Nội vào đầu năm 1960, chỉ vài ngày trước khi ông bị triệu tập xét xử vì
tội “đi chệch đường lối.” Các nhà lãnh đạo khác bị cáo buộc là đã “âm mưu kích
động quần chúng thực hiện những cuộc biểu tình phản cách mạng nhằm lật đổ chế độ
dân chủ nhân dân và sự lãnh đạo của đảng.”
Trong bài nói chuyện với giới trí thức vào tháng Bảy năm
1956, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh “Đảng và chính phủ cần hỗ trợ giới trí thức bằng
cách giáo dục để họ có được một lập trường giai cấp vững vàng, một quan điểm
đúng đắn, một suy nghĩ hợp lý và những cách cư xử mang tính dân chủ.”[46] Theo
lời dẫn dắt này, vào tháng Mười Hai năm 1956, một cuộc họp của các quan chức
cao cấp của đảng chịu trách nhiệm về giáo dục và nghệ thuật đã được triệu tập
nhằm “thống nhất các quan điểm và suy nghĩ của đảng về chủ đề văn học nghệ thuật,
để đưa ra một quyết định cho tạp chí Nhân Văn và chỉ ra những hướng phát triển
cho tương lai.”[47] Buổi họp này đã đưa ra quyết định biên dịch ra tiếng Việt tất
cả tài liệu tiếng Trung và tiếng Nga về việc quản lý giới trí thức.
***
[1] Ghi chú của Ban Biên tập: 1. Tài liệu mang tính chất
tham khảo, thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không phải quan điểm của người
dịch và Ban Biên tập Nghiencuuquocte.net; 2. Do không thể tìm được tất cả các
văn bản gốc để đối chiếu, một số trích dẫn được dịch từ tiếng Anh có thể không
đúng như nguyên văn tiếng Việt. Một số thông tin (như về tên riêng, nhân thân,
chức danh… của các nhân vật) trong bài mà tác giả đưa ra có thể không chính
xác.
[2] Hồ Chí Minh đã giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương vào năm
1946 khi các cuộc đàm phán với Pháp về quyền tự trị đã thất bại và ông chuẩn bị
cuộc chiến chống Pháp. Để làm cho các nhóm dân tộc khác, đặc biệt là Việt Nam
Quốc Dân Đảng – những người kiên quyết chống cộng, gia nhập vào tổ chức chung
là Việt Minh, Hồ Chí Minh đã giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông tìm cách
làm giảm bớt những lo ngại cho rằng Việt Minh là một tổ chức do cộng sản lãnh đạo
hoặc chi phối. Tuy nhiên, các cán bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đã chiếm ưu thế
trong những vị trí lãnh đạo của Việt Minh.
[3] Melvin Gurtov, The First Indochina War: Chinese
Communist Strategy and the United States (New York: NXB ĐH Columbia, 1967), 16.
[4] William Duiker, The Communist Road to Power in Vietnam
(Boulder, Colo.: Westview Press, 1981), 141.
[5] Andrew Vickerman, The Fate of the Peasantry: The
Premature “Transition to Socialism” in the Democratic Republic of Vietnam (New
Haven, Conn.: Yale Center for International and Area Studies, Chuyên khảo số
28, 1986). Tham khảo thêm Neil Jamieson, Understanding Vietnam (Berkeley:
University of California Press, 1993), 224.
[6] Như Phong, “Intellectuals, Writers and Artists,” trong
P. J. Honey, biên tập., North Vietnam Today: Profile of a Communist Satellite
(New York: Praeger, 1962), 77.
[7] Như Phong, “Intellectuals, Writers and Artists,” 73.
[8] Đặng Thai Mai,
“Văn học Việt Nam,” tạp chí Châu Âu, 187-388 (Tháng Bảy – Tháng Tám 1961), 91.
[9] Mao Trạch Đông, “Talks at the Yenan Forum on Literature
and Art,” Tháng Năm 1942, trong Mao Trạch Đông,
Tuyển tập, tập 3 (Peking: NXB Ngoại Ngữ Hà Nội, 1965), 69–98; Vladimir
Lenin, “Party Organization and Party Literature,” 1905, trong Robert C. Tucker,
biên tập và dịch, The Lenin Anthology (New York: Norton, 1975), 148–153; Maxim
Gorky, “Soviet Literature,” Bài nói chuyện tại Đại hội đầu tiên các nhà văn Xô
Viết của toàn liên bang 17 tháng Tám 1934, trong Maxim Gorky, On Literature:
Selected Articles (Moscow: Foreign Language Publishing House, n.d.), 228–268.
[10] Trường Chinh, “Chủ nghĩa Mác và Văn hóa Việt Nam” (Báo
cáo trong Hội nghị Văn hóa Toàn Quốc lần hai, tháng Bảy 1948) trong Trường
Chinh, tuyển tập (Hà Nội: NXB Ngoại Ngữ, 1977), 286
[11] Mao Trạch Đông, “Talks at the Yenan Forum on Literature
and Art,” 86.
[12] Hồ Chí Minh, “Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội
họa 1951,” trong Hồ Chí Minh, tuyển tập (1920-1949) (Hà Nội: NXB Ngoại Ngữ,
1973), 133
[13] Cùng tác phẩm, 134
[14] Georges Boudarel, “Intellectual Dissidence in the
1950s: The Nhan-Van Giai Pham Affair,” Vietnam Forum 13, 155.
[15] Như Phong, “Intellectuals, Writers and Artists,” 74.
[16] P. J. Honey, “Introduction,” in Honey, ed., North
Vietnam Today: Profile of a Communist Satellite (New York: Praeger, 1962), 6.
[17] Như Phong, “Intellectuals, Writers and Artists,” 75.
[18] Như trên, 76.
[19] Phan Khôi, “Phê bình Lãnh đạo Văn nghệ,” Giai Phẩm Mùa
Thu (Tháng Chín 1956) trong Hoàng Văn Chí, biên tập, Giai cấp mới ở miền Bắc Việt
Nam (Sài Gòn: NXB Công Dân, 1958), 75.
[20] Như Phong, “Intellectuals, Writers and Artists,” 80.
[21] Trích trong Như Phong, “Intellectuals, Writers and
Artists,” 80.
[22] Trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the
1950s,” 157.
[23] Trích trong C. K. Nguyễn, “Prophets without Honour,”
Far Eastern Economic Review (sau đây viết tắt là FEER), 4 Tháng Tư 1991, 31.
[24] Phan Khôi là cháu trai của huyền thoại Hoàng Diệu (người
đã treo cổ tự vẫn khi người Pháp chiếm thành Hà Nội) và là cha đẻ của thơ hiện
đại, một nhà cách mạng kỳ cựu, người đã trải qua chín năm bị giam cầm trong nhà
tù Côn Đảo và tám năm trong những khu rừng Việt Bắc cùng với lực lượng kháng
chiến. Ông qua đời trong tủi nhục, và bị gán cái mác kẻ thù của quốc gia.
[25]Giai Phẩm, Tháng Chín 1956, trích trong Jamieson,
Understanding Vietnam, 258
[26] Hoàng Văn Chí khẳng định rằng Trần Dần cuối cùng cũng bị
đem ra xét xử, nhưng “không có lời bào chữa nào của ông được nhắc đến,” qua đó
chứng minh rằng “tất cả miệng của họ đã bị lắp đầy.” Tham khảo Hoàng Văn Chí,
The New Class in North Vietnam (Sài Gòn,
NXB Công Dân, 1958), 81-83
[27] Tham khảo Nguyễn Ngọc Bích, biên tập, One Thousand
Years of Vietnamese Poetry (New York: NXB ĐH Columbia, 1975), 187–189.
[28] Tác phẩm giành giải của Xuân Diệu “Ngôi sao.” Xuân Diệu
trở thành trí thức gia hàng đầu của đảng, liên kết chặt chẽ với Tố Hữu – nhà
thơ cách mạng và sau này trở thành ủy viên Bộ chính trị.
[29] Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s,” 164.
[30] Trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the
1950s,” 164. Khi đảng cảnh cáo ông về những tác phẩm này, Phùng Quán đã trả lời
một cách ngang ngược:
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã.
Bút giấy tôi, ai cướp giật đi?
[31] Trần Lê Văn, “Fear Not that the Enemy Shall Benefit,”
Nhân Văn số 2 (30 tháng Chín 1956): 164; trích trong Boudarel, “Intellectual
Dissidence in the 1950s.”
[32] Trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the
1950s,” 166.
[33] Như trên.
[34] Trích trong Jamieson, Understanding Vietnam, 261.
[35] Trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the
1950s,” 167.
[36] Bài thơ xuất hiện trong Giai Phẩm mùa Thu phiên bản ra
vào Tháng Mười năm 1956 và có thể tìm thấy trong Hoàng Văn Chí, The New Class
in North Vietnam.
[37] Bùi Tín, Following Ho Chi Minh: Memoirs of a North
Vietnamese Colonel (Honolulu: University of Hawaii Press, 1995), 14-16. Tác phẩm này nhấn mạnh sự bất đồng giữa Võ
Nguyên Giáp và Trường Chinh. Ông Giáp, người chiến thắng trong trận chiến Điện
Biên Phủ, đã đạt được điều đó bằng cách lờ đi lời khuyên từ các cố vấn Trung Quốc
của mình. Một điểm thú vị là trong hồi ký của mình về cuộc chiến, ông rất hiếm
khi nhắc đến sự ủng hộ của Trung Quốc hoặc trợ giúp mà ông nhận từ Quân Giải
phóng Nhân dân Trung Quốc. Tham khảo thêm trong Cecil Currey, Victory at Any
Cost (Washington, D.C.: Brassey’s, 1997), esp. 145–212.
[38] Tín, Following Ho Chi Minh, 35.
[39] Hirohide Kurihara, “Changes in the Literary Policy of
the Vietnamese Workers’ Party, 1956-1958,” in
Indochina in the 1940s and 1950s (Ithaca, N.Y.: NXB ĐH Cornell,
Southeast Asia Program, 1992), 165–196.
[40] Ví dụ, tham khảo Nguyễn Chương, “Có căn cứ hay không có
căn cứ,” Nhân Dân, 15 tháng Mười 1956. Và Nguyễn Chương, “Mấy điểm sai lầm chủ
yếu trong báo Nhân Văn và tập Giai Phẩm Mùa Thu,” Nhân Dân, 25 tháng Chín 1956.
[41] Chu Ngọc, Nhân Văn, Kỳ 3. Trích trong Boudarel,
“Intellectual Dissidence in the 1950s,” 164.
[42] Trích trong Boudarel, “Intellectual Dissidence in the
1950s,” 171.
[43] “Phất cao ngọn cờ yêu nước và xã hội chủ nghĩa, nhân
dân Hung-ga-ri đã đè bẹp bọn phản cách mạng, tay sai của đế quốc,” báo Nhân
Dân, 5 tháng Mười Một 1956
[44] Chiến dịch cải cách ruộng đất tàn bạo và gây ra cuộc nổi
loạn công khai tại Nghệ An, điều này đã đe dọa đến sự sống còn của đảng – Ngay
cả sự trung thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng bị nghi ngờ. Hồ Chí Minh
bị buộc phải cách chức Trường Chinh (người đã trải qua việc tự phê bình trước
công chúng) và nắm quyền điều hành đảng. Bản thân Hồ Chủ tịch nhận ra được sự
thái quá, và đã tiến hành một cuộc vận động chỉnh đốn. Ban chấp hành Trung ương
Đảng thừa nhận “đã mắc phải một số sai lầm nghiêm trọng trong suốt cuộc cải
cách ruộng đất,” và hàng nghìn tù chính trị đã được thả như một động thái thể
hiện thiện chí. Nhưng những cuộc thanh trừng của đảng đã gieo rắc sự ngờ vực
sâu sắc. Tại Hội nghị lần thứ 10 của Ban Chấp hành Trung ương, Đảng Lao Động đã
thông báo sẽ “mở rộng dân chủ, bảo vệ tự do dân chủ và mở rộng hệ thống pháp lý
dân chủ.” Lincoln Kaye, “A Bowl of Rice Divided: The Economy of North Vietnam,”
trong P. J. Honey, biên tập, North Vietnam Today, 107–108. Lịch sử đầy đủ của
chiến dịch cải cách ruộng đất có thể tìm đọc trong Vickerma, The Fate of the
Peasantry.
[45] Ví dụ, tham khảo, Hoàng Văn Chí, The New Class in North
Vietnam.
[46] Hồ Chí Minh, “A Talk with Intellectuals,” trong Hồ Chí
Minh, Tuyển tập các bài báo và phát biểu, 1920–1967, Jack Woddis, biên tập (New
York: International Publishers, 1969), 109.
[47] Tạp chí Văn Nghệ, 13 (Tháng Sáu 1957)
Nguồn: http://nghiencuuquocte.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét