
Ý tưởng đánh thuế robot được đưa ra vào tháng 5 năm ngoái trong một bản báo cáo sơ bộ nộp cho Nghị viện Châu Âu do nghị sĩ Mady Delvaux soạn thảo. Nhấn mạnh vào việc robot có thể làm gia tăng bất bình đẳng thu nhập như thế nào, báo cáo cho rằng có thể “cần áp dụng các quy định bắt buộc các công ty báo cáo về mức độ và tỷ lệ đóng góp của robot và trí thông minh nhân tạo (AI) vào kết quả kinh doanh của một công ty nhằm mục đích đánh thuế và đóng góp an sinh xã hội.”
Phản ứng của công chúng với đề xuất
của Delvaux là cực kỳ tiêu cực, trừ ngoại lệ đáng chú ý là Bill Gates, người ủng
hộ nó. Nhưng chúng ta không nên vội vàng gạt bỏ ý kiến này. Chỉ trong năm qua,
chúng ta đã thấy sự phát triển của những thiết bị như Google Home và Amazon
Echo Dot (Alexa) vốn có khả năng thay thế một số khía cạnh của quản lý công việc
nhà. Tương tự, các dịch vụ taxi không người lái Delphi và nuTonomy đã bắt đầu
thay thế tài xế taxi. Và Doordash, sử dụng các thiết bị tự lái mini Starship
Technologies, đang dần thay thế các nhân viên giao vận của các nhà hàng.
Nếu các tiến bộ này và các tiến bộ
khác nữa trong việc thay thế lao động thành công, chắn chắn việc kêu gọi đánh
thuế chúng sẽ trở nên thường xuyên hơn. Điều này là bởi các vấn đề nổi lên khi
người dân mất việc làm- thường là các công việc mà họ gắn bó chặt chẽ, và là những
công việc mà họ đã phải chuẩn bị trong nhiều năm mới làm được. Những người lạc
quan chỉ ra rằng luôn có việc làm mới cho những việc làm được thay thế bởi công
nghệ; nhưng, khi cuộc cách mạng robot tăng tốc, những hoài nghi liệu điều này
có trở thành hiện thực hay không tiếp tục tăng lên. Những người ủng hộ việc
đánh thuế robot hy vọng rằng nó sẽ làm chậm lại quá trình này, và cung cấp ngân
sách để chi cho các điều chỉnh, như các chương trình tái đào tạo cho những người
lao động bị đào thải.
Các chương trình như vậy có thể cần
thiết tương tự như việc chúng ta cần làm việc để có được cuộc sống khỏe mạnh.
Trong cuốn sách của mình, Rewarding Work, Edmund S. Phelps nhấn mạnh tầm quan
trọng căn bản của việc duy trì một “vị trí trong xã hội – một công việc”. Khi
người ta không còn khả năng tìm việc để chu cấp cho gia đình, những hậu quả
nghiêm trọng sẽ theo sau, như Phelps nhấn mạnh, “sự vận hành của cả một công đồng
có thể bị hủy hoại.” Nói cách khác, có những ảnh hưởng ngoại hiện do quá trình
robot hóa khiến chính phủ cần phải can thiệp.
Các nhà phê bình việc đánh thuế
robot nhấn mạnh rằng sự mơ hồ của cụm từ “robot” khiến việc xác định đối tượng
đóng thuế rất khó khăn. Họ cũng nhắc đến các lợi ích mới khổng lồ, không thể chối
cãi của robot đối với việc gia tăng năng suất.
Nhưng cũng không nên nhanh chóng
loại bỏ việc ít nhất là đánh một khoản thuế robot khiêm tốn trong quá trình
chuyển dịch tới một thế giới việc làm khác. Một khoản thuế như vậy nên là một
phần của một kế hoạch rộng lớn hơn nhằm quản lý các hậu quả của cuộc cách mạng
robot.
Tất cả các khoản thuế, trừ “thuế
khoán”, đều gây méo mó nền kinh tế. Nhưng không một chính phủ nào có thể áp đặt
thuế khoán – một mức khoán cho tất cả mọi người bất kể thu nhập hay chi tiêu ra
sao – vì nó sẽ ảnh hưởng nhiều nhất lên những người có thu nhập thấp hơn, và
nghiền nát người nghèo, những người có thể sẽ không thể chi trả được. Vậy nên
các khoản thuế phải liên quan đến một vài hoạt động nói lên khả năng đóng thuế,
và dù hoạt động đó có là gì thì thuế cũng sẽ khiến hoạt động đó bị kiềm chế.
Frank Ramsey xuất bản một bài báo
kinh điển vào năm 1927, cho rằng để làm giảm tối thiếu những méo mó gây ra bởi
thuế, ta cần đánh thuế tất cả mọi hành vi, và ông đề xuất cách đặt mức thuế suất.
Học thuyết trừu tượng của ông chưa bao giờ là một nguyên tắc hoàn toàn khả thi
cho việc xác định mức thuế suất thực tế, nhưng chúng đưa ra một ý kiến mạnh mẽ
chống lại việc cho rằng thuế nên bằng không với tất cả ngoại trừ một vài hoạt động,
hoặc tất cả các hoạt động nên bị đánh thuế ở cùng một mức.
Các hoạt động tạo ra các ảnh hưởng
ngoại hiện (tiêu cực) có thể có mức thuế cao hơn mức Ramsey sẽ đề xuất. Ví dụ, thuế đối với đồ uống có cồn là phổ biến.
Nghiện rượu là một vấn đề xã hội lớn. Nó hủy hoại hôn nhân, gia đình và cuộc sống.
Từ năm 1920 đến năm 1933, Hoa Kỳ đã cố gắng can thiệp vào thị trường nhiều hơn
nữa: cấm hoàn toàn đồ uống có cồn. Nhưng hóa ra họ lại không thể tiêu diệt được
việc tiêu thụ rượu. Thuế rượu đi kèm với sự chấm dứt của thời kỳ Cấm Đoán đồ uống
có cồn là một kiểu gây tác động kiềm chế nhẹ nhàng hơn.
Thảo luận về thuế robot nên cân
nhắc những lựa chọn thay thế mà chúng ta có để đối phó với sự bất bình đẳng
đang gia tăng. Sẽ hợp lý hơn khi cân nhắc một kiểu thuế thu nhập mang tính lũy
tiến hơn và một mức “thu nhập cơ bản.” Nhưng, các giải pháp này không được ủng
hộ rộng khắp. Nếu sự ủng hộ không rộng khắp, khoản thuế này, dù có được áp đặt,
cũng sẽ không lâu bền.
Khi thuế cho nhóm thu nhập cao
tăng lên, thường là trong thời chiến, nó chỉ là tạm thời. Cuối cùng, hầu hết mọi
người đều cho rằng khi đánh thuế những người thành công để làm lợi cho những
người không thành công là hạ thấp phẩm giá của những người không thành công, và
thậm chí những người nhận trợ cấp cũng thường không thật sự muốn chúng. Các
chính trị gia biết điều đó: họ thường không vận động đề xuất tịch thu của nhóm
thu nhập cao và bù đắp cho nhóm thu nhập thấp.
Vì vậy, thuế phải được sắp xếp lại
để khắc phục bất bình đẳng thu nhập gây ra bởi quá trình robot hóa. Việc đánh
thuế vào robot thay vì chỉ những người có thu nhập cao có thể dễ chấp nhận hơn
về mặt chính trị, và nhờ đó bền vững hơn. Và mặc dù nó không đánh thuế sự thành
công của cá nhân con người, như trong trường hợp thuế thu nhập, thì thực tế nó
hàm ý việc đánh thuế cao hơn đối với nhóm thu nhập cao hơn, nếu khoản thu nhập
đó là từ các hoạt động liên quan đến việc thay thế con người bằng robot.
Một khoản thuế vừa phải đối với
robot, dù rằng một khoản thuế tạm thời chỉ để làm chậm lại việc áp dụng các
công nghệ gây xáo trộn, dường như là một thành tố tự nhiên của một chính sách
nhằm giải quyết tình trạng bất bình đẳng thu nhập đang gia tăng. Doanh thu thuế
có thể được dành cho bảo hiểm tiền lương, nhằm giúp những người bị thay thế bởi
công nghệ mới chuyển sang một nghề nghiệp khác. Điều này sẽ phù hợp với cảm
quan tự nhiên của chúng ta về công lý, và nhờ đó có lẽ nó sẽ tồn tại lâu dài.
Robert J. Shiller, chủ nhân giải
Nobel Kinh tế năm 2013, là giáo sư ngành kinh tế học tại Đại học Yale và là đồng
tác giả của Chỉ số Case-Shiller về giá cả nhà ở tại Mỹ. Ông là tác giả cuốn
Irrational Exuberance, tái bản lần thứ 3 vào tháng 1 năm 2015, và gần đây nhất
là cuốn Phishing for Phools: The Economics of Manipulation and Deception, đồng
tác giả với George Akerlof.
Nguồn: Robert J. Shiller, “Robotization without taxation?”, Project Syndicate, 22/03/2017.
Nguồn: Robert J. Shiller, “Robotization without taxation?”, Project Syndicate, 22/03/2017.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét