“Tất cả chúng ta phải thượng tôn
pháp luật, lấy pháp luật làm trọng” – Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Nguyễn Đức
Chung vừa đưa ra tuyên bố trên trong vụ việc ở Đồng Tâm. Song có lẽ chúng ta
nên làm rõ một số khái niệm trong cái câu nói nghe quen thuộc đến mức tưởng như
chẳng cần phải bàn cãi này.
Rằng: Luật là gì? Và đã bao giờ
chúng ta tự hỏi, hà cớ chi mà phải thượng tôn pháp luật?
Luật là gì?
Khi nói đến luật, ta thường liên
tưởng đến một thiết chế khách quan, phổ quát, gắn liền với sự công chính – một
điều mà con người luôn hướng đến. Chính vì dựa trên mong muốn như vậy, mà lịch
sử nhân loại đã tiến hóa từ các hình thức cai trị kiểu nhân trị (dựa trên ý chí
tùy tiện của người cai trị) sang hình thức pháp quyền (dựa trên luật pháp), với
niềm tin rằng chỉ khi luật pháp được thượng tôn thì công lý mới hiện hữu.
Từ thuở sơ khai nguyên thủy, con
người sống với nhau bằng luật lệ của họ. Ấy là thứ luật tự nhiên bất thành văn,
được xây dựng trên một cảm quan chung về những ý niệm như công lý và tự do. Như
vậy, luật lệ đã tồn tại từ trước khi có nhà nước, và nó được gọi là luật đạo đức
(moral law).
Sự ra đời tất yếu của nhà nước đã
dẫn đến việc phải ban hành luật thành văn, hay còn gọi là luật pháp (legislated
law). Nếu nhà nước được tạo dựng đúng với tinh thần của một thiết chế độc lập,
khách quan nhằm bảo vệ công lý và tự do, thì có thể tin tưởng rằng, luật pháp của
nhà nước ấy sẽ tuân theo luật đạo đức. Và khi đó, cũng chính luật pháp sẽ giúp
người dân xác quyết những ý niệm trong luật đạo đức thành văn bản.
Thượng tôn pháp luật để làm gì?
Tuy nhiên, trong viễn cảnh đương
đại, luật pháp ngày càng được đề cao và người ta sinh ra thói quen đồng nhất nó
với luật đạo đức. Từ đó, với niềm mong mỏi công lý như một bản năng, thay vì
kêu gọi tôn trọng luật đạo đức trước hết, thì ta lại đòi hỏi bản thân và người
khác phải thượng tôn thứ luật pháp do nhà nước ban hành.
Và một điều rất tệ hại sẽ âm thầm
diễn ra khi ta mặc nhiên coi hai khái niệm này như một. Hãy thử nhìn lại lịch sử
của những quốc gia cộng sản, các nước độc tài hay chính quyền phát xít trước
đây, nơi các lực lượng chính trị độc tôn quyền lực nhà nước nhân danh ý tưởng về
giai cấp và chủng tộc, và cả ở những quốc gia dân chủ nơi nhóm đa số giữ địa vị
tối cao. Trong các xã hội như vậy, nhà nước không còn là một thực thể độc lập
khách quan nữa, mà nó bị chi phối để phục vụ cho lợi ích của một nhóm người, và
nhóm này có thể là đa số hoặc thiểu số trong xã hội.
Đức Quốc xã đã sử dụng luật pháp
để giết hại hàng triệu người Do Thái. Ảnh: Hulton/Getty
Bất kể những nhà nước ấy có hình
thành các thiết chế như lập pháp, hành pháp và tư pháp như một biểu hiện của
nhà nước pháp quyền, thì luật pháp của nó đã không còn mang tinh thần của luật
đạo đức. Và khi ấy, hiến pháp và luật pháp chỉ đơn thuần là công cụ của lực lượng
cai trị để hợp pháp hóa cũng như củng cố quyền lực.
Hãy tự hỏi, chúng ta có sẵn lòng
tuân theo luật pháp không, nếu đó là Đạo luật Nuremberg – luật chống người Do
Thái do Đức Quốc xã ban hành? Và chúng ta có muốn lấy luật pháp làm trọng
không, nếu ta đang sống vào thời đại lên ngôi của Đạo luật truy nã nô lệ bỏ trốn
(Fugitive Slave Act) ở một số tiểu bang của nước Mỹ hồi thế kỷ mười tám?
“Luật bất công không phải là luật”
Câu nói trứ danh ấy của Augustine
xứ Hippo đã khiến cho những người của 16 thế kỷ về sau phải hoài nghi bản thân.
Chính tâm lý đồng nhất luật pháp với luật đạo đức đã trở thành kim bài miễn tội
cho “vương quốc tham lam” trong dụ ngôn của Augustine: “khi công lý bị tước đi,
thì vương quốc chẳng khác gì một băng cướp”. [1]
Rõ ràng, việc đồng nhất hai khái
niệm này có hại cho công lý, vì nó thúc đẩy quá trình dịch chuyển từ một loại
trật tự xã hội dựa trên luật đạo đức sang một thứ trật tự lạm dụng việc lập
pháp để hướng đến toàn trị.
Do đó, ta phải xem xét lại thuật
ngữ “pháp luật” trong cái cụm từ thân quen “thượng tôn pháp luật”. Bởi một
logic hết sức đơn giản: trong một chế độ mà ta tin là cần phải thượng tôn pháp
luật, thì trước tiên, công lý phải hiện hữu. Mà để công lý hiện hữu, thì luật đạo
đức phải hiện hữu. Tức là, thượng tôn pháp luật chỉ đồng nghĩa với sự tồn tại của
luật đạo đức.
Và vì vậy, để đảm bảo tính thượng
tôn pháp luật, thì luật pháp – một thứ không thể chối bỏ trong đời sống hiện đại
– phải phục tùng luật đạo đức.
Để đạt được điều ấy, thứ nhất, luật
đạo đức phải được định hình trong hiến pháp để làm nền tảng cho luật pháp; và
thứ hai, cơ quan lập pháp phải được kiểm soát chặt chẽ để tránh ban hành những
đạo luật tùy tiện.
Bạn đọc có lẽ vẫn thường nghe đến
phát chán về những cách thức giới hạn quyền lực của cơ quan lập pháp, như là
“phân chia và kiểm soát quyền lực”, “tư pháp độc lập”, hay “báo chí tự do”.
Quen thuộc đến vậy, mà Việt Nam lại chưa hề có được một điều gì trong số ấy.
Ông Nguyễn Đức Chung phát biểu tại
buổi công bố dự thảo kết luận thanh tra đất Đồng Tâm. Ảnh: Báo Hà Nội Mới
Lời kêu gọi của ông Chung
Nhà nước vẫn đang giải quyết vụ
việc ở Đồng Tâm bằng cái gọi là thủ tục pháp lý và “thượng tôn pháp luật” như
cách hiểu của ông Chung. Song rõ ràng, người dân vẫn chưa cảm nhận được gì về
công chính.
Thử hỏi làm sao có được công
chính khi cái mô thức pháp quyền giả tạo vẫn đang ngự trị và khái niệm “luật
pháp” thì bị lập lờ? Khi mà chính quyền vừa là cơ quan ban hành luật, vừa là cơ
quan thực thi luật, vừa là người phán xử, thậm chí lại còn dính dáng đến những
sai trái mà chính họ cũng đã thừa nhận? [2]
Cho dù chúng ta có một quốc hội
ban hành luật, một hệ thống tòa án để xét xử nhằm đảm bảo mọi thứ theo đúng thủ
tục pháp lý, thì cái niềm tin vào luật pháp thực sự chỉ là một thứ ảo tưởng về
công chính. Bởi việc “sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” trong một hệ
thống mà Đảng nắm giữ quyền lực độc tôn không hề mang nghĩa bảo vệ lý tưởng
pháp quyền, mà thực chất là phục tùng sự cai trị của Đảng.
Và như thế, lời kêu gọi của ông
Chung chỉ phản ánh một trong hai khả năng: hoặc là ông đang cố sử dụng cái gọi
là “thượng tôn pháp luật” để củng cố tính chính danh cho các hành động bất nhất
của mình, hoặc là ông không thực sự hiểu thượng tôn pháp luật là gì cả.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét