Dân tộc nào cũng có những truyện
cổ tích. Truyện cổ tích được hình thành, biến đổi theo chiều dài lịch sử hàng
ngàn năm của mỗi dân tộc, rồi mới được "định hình". Khi " định
hình", truyện cổ tích đã kết tinh được những giá trị phổ quát mang tính
triết học, mỹ học và tâm linh mà dân tộc đó tôn thờ, trở thành một bộ phận cấu
thành nền văn hoá của dân tộc đó.
Nhớ lại hồi học tiểu học, lớp 3
hay 4, sách giáo khoa tập đọc cho học sinh có truyện cổ tích " Tấm-Cám".
Học sinh phải tập đọc và còn được thầy, cô giáo đọc hay kể lại nhiều lần với những
phân tích "đắt giá", cố làm cho học sinh "hiểu sâu sắc" hơn
những "giá trị" của truyện Tấm, Cám, như : truyện Tấm, Cám phản ánh
cuộc đấu tranh giữa cái "thiện" và cái "ác", giữa "
chính" và " tà"; kết cục luôn có hậu là " cái thiện"
thắng "cái ác", " cái chính" thắng " cái tà" bằng
những âm mưu lừa gạt và hành vi độc ác, giống như cách hành xử của
“cái ác”, nhưng không bị lên án!
Mỗi khi đọc hay kể đến những
lần cô Tấm bị mẹ, con cô Cám bày mưu lừa gạt, hãm hại, máu căm thù
trong tôi lại sôi lên sùng sục. Ngược lại, khi đọc, hay nghe đến những
đoạn “cô Tấm thảo hiền” lừa và trả thù được mẹ, con cô Cám, cũng
bằng những thủ đoạn, mưu mô và hành vi độc ác tương tự như mẹ con cô
Cám, thì lòng tôi lại hả hê, thích thù vô cùng! Đến đoạn kết, cô
Tấm lừa được cô Cám nghe theo lời mình, tắm gội bằng nước sôi để
trắng da nên bị chết; cô Tấm băm xác cô Cám để làm mắm, gửi về
“biếu” mẹ cô Cám, thì sự độc ác của câu truyện đạt đến tột đỉnh,
nhưng bọn trẻ và có lẽ cả người lớn, lại vui mừng, sung sướng cũng
đến tột đỉnh!??
Bây giờ nghĩ lại thấy rùng
mình, không hiểu nổi tại sao mình lại có tình cảm căm thù và hả hê
đến tột đỉnh như thế khi đọc truyện Tấm, Cám?? Cả câu truyện là một
chuỗi những âm mưu lừa gạt, những hành vi trả thù độc ác, “lấy oán
trả oán”, không có điểm dừng. Đúng là “thù muôn đời, muôn kiếp không
tan; “căm hờn lại giục căm hờn, máu kêu trả máu, đầu van trả đầu”
(Tố Hữu). Tuy vậy, trong lịch sử dân tộc ta, đạo Phật đã tồn tại
gần như quốc đạo trong suốt gần 400 năm dưới 2 triều đại Lý, Trần,
với triết lý “lấy ân báo oán”, hòng chặn đứng chuỗi âm mưu lừa gạt
và hành vi độc ác của con người. Muốn lấy ân báo oán, con người
phải biết sống khoan dung. UNESCO (1995) quan niệm “khoan dung là hài
hòa trong khác biệt; khoan dung vừa là bổn phận đạo đức, vừa là một
đòi hỏi pháp lý và chính trị”. Tuy coi đạo Phật gần như là quốc
giáo, nhà Trần vẫn tôn trọng các tôn giáo khác. “Tam giáo đồng
nguyên”, Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo cùng tồn tại bên nhau, không kì
thị, bài xích nhau. Hơn thế nữa, sau khi chiến thắng quân Nguyên-Mông
lần thứ 3, vua Trần Nhân Tông không những không đọc mà còn buộc đốt
bỏ tất cả những đơn thư tố cáo, vật chứng kết tội một số quan chức
đã đầu hàng, thậm chí làm tay sai cho giặc, rồi tha cho viên quan
Hoàng Cự Đà đã trốn chạy quân Nguyên….. Sau sự kiện này mấy trăm năm
, tổng thống Hoa Kì Abraham Lincol cũng có hành vi tương tự khi kết
thúc cuộc chiến Nam-Bắc Mỹ mà phần thắng thuộc về các bang miền
Bắc do ông lãnh đạo.
Sự khoan dung, vị tha trong
lịch sử Việt Nam có lẽ đạt đến đỉnh cao dưới thời vua Lê Thánh Tông,
thể hiện trong bộ luật Hồng Đức. Luật Hồng Đức không những miễn tội
cho những kẻ không tố cáo người thân (ông bà, cha mẹ, vợ chồng, anh,
chị em ruột) phạm tội, mà còn cấm con, cháu tố cáo ông bà, cha mẹ
khi họ phạm tội, trừ tội đại nghịch, giết người thân một cách độc
ác; con cháu có nghĩa vụ che dấu tội cho ông bà, cha mẹ.
Đó là những điểm sáng văn
hóa trong lịch sử hình thành và phát triển dân tộc và nhà nước
Việt Nam. Nhưng cũng rất tiếc là phải thừa nhận rằng triết lí sống
lấy oán trả oán vẫn lấn át triết lí sống lấy ân trả oán trong
suốt chiều dài lịch sử Việt Nam. Lừa bịp và dối trá, căm hờn và
trả thù một cách độc ác, nói gọn là “dối trá và độc ác” có thể
được định danh là “Văn hóa Tấm – Cám”.
“Văn hóa Tấm, Cám” có lẽ
bắt nguồn sâu xa từ văn hóa làng Việt . Có thể khi mới ra đời, truyện Tấm-Cám
chỉ phản ánh khát vọng chiến thắng cái ác của những người yếu thế, lương thiện
, mà chủ yếu là nông dân . Nhưng cùng với
quá trình lịch sử phát triển của dân tộc Việt, nó đã trở thành văn hoá lúc nào
không hay. Mỗi làng là một ” tiểu vương quốc”, “ phép vua, thua lệ
làng”. Trai, gái kết hôn theo tập tục bất thành văn “trong làng, ngoài
họ” (tất nhiên vẫn có ngoại lệ). Trai làng này sang “tán” gái làng
kia dễ dẫn đến ẩu đả, đổ máu giữa con trai 2 làng. Trong mỗi làng,
không chỉ có những vị thuộc lớp Kì, Hào, Mục hãnh tiến về mình và
tranh giành vị thế, uy danh với nhau, với làng bên, mà đến tên mõ
làng cũng vậy. Thằng mõ là kẻ có chức “tệ” nhất trong một làng,
mà còn có cảnh “thằng mõ làng lớn bắt nạt thằng mõ làng bé”. Mõ
làng lớn phải “oai” hơn, hãnh tiến hơn các mõ làng bé. Thế thì các
vị Kì, Hào, Mục ở làng lớn cũng sẽ ra oai với các vị Kì, Hào,
Mục ở làng bé gấp nhiều lần bọn mõ làng. Muốn tỏ ra “oai hơn” tất
phải âm mưu lừa gạt và hành động độc ác theo “Văn hóa Tấm – Cám”.
Người Việt từ xa xưa và dường như vẫn tồn tại đến bây giờ cái “lí
tưởng”, cái mục tiêu cao nhất, gần như duy nhất của sự học là để
làm quan, chứ không phải làm doanh nhân hay khoa học gia. Bởi kẻ làm
quan mới có vị thế quyền hành bắt nạt người khác, ra oai với mọi
người, tự hào với dòng tộc, làng nước, để “ Một người làm quan, cả
họ được nhờ”. Tất nhiên, để đạt được “khát vọng” đó, từ thằng mõ
đến các quan lớn, nhỏ đều phải thực hiện các hành vi “lừa bịp và
độc ác”. Dường như, người ta, dù có học vấn, cao hay thấp, có địa
vị hay sang hèn, đều cảm thấy sung sướng, hãnh tiến và tự hào khi
làm người khác đau khổ bằng những
âm mưu lừa gạt thấp hèn và hành vi độc ác của mình. Chả thế
mà một anh dân phòng, giữ trật tự ở chợ, lại dám vặn cổ một người
bán hàng rong; Một viên cảnh sát giao thông dám đánh chết người dân ở
đồn công an chỉ vì người này mắc lỗi vi phạm luật giao thông :đi xe
máy không đội mũ bảo hiểm….. Bộ máy cầm quyền cai trị bằng cách
làm cho người dân luôn luôn nơm nớp lo sợ trước những âm mưu lừa gạt
và hành vi độc ác của kẻ có, dù chỉ một chút, quyền lực. Nhà cầm
quyền dù là vua, quan dưới thời phong kiến hay quan lại dưới thời
thực dân đều cai trị dân theo kiểu như vậy : Tạo ra tâm lí sợ hãi
trước uy quyền, không cần biết uy quyền ấy có chính danh hay không.
Nhưng “tức nước vỡ bờ”, “con
giun xéo mãi cũng oằn”, người bị cai trị đến một ngưỡng nào đó sẽ
vượt qua sự sợ hãi, dám đứng lên chống lại kẻ cầm quyền. Đến lượt
họ, người dân, theo “Văn hóa Tấm – Cám”, cũng dùng những âm mưu lừa
gạt và hành vi độc ác để trả thù bọn cầm quyền, nhiều khi còn độc
ác hơn bọn quan lại. Sự hận thù,
lấy oán trả oán của người dân đối với bọn quan lại thực dân còn tệ
hại, độc ác hơn đối với bọn quan lại phong kiến. Lúc đầu, sự phản
kháng của người dân thường bằng những câu truyện tiếu lâm, những lời
nói châm biếm, chế giễu bọn quan lại, như “miệng quan, trôn trẻ”,
“cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”; “thằng ấy tuy là đảng viên
nhưng mà tốt”; “Nó tuy là giáo sư, nhưng mà giỏi”…. “Nó tuy là giám
đốc, nhưng biết thương người lao động”…..Nhưng khi đã vượt qua sự sợ
hãi, sự uất ức của người dân biến thành những hành động độc ác,
như “Trí, phú, địa, hào: Đào tận gốc, trốc tận rễ”, cất lên lời ca
đầy hãnh tiến “thề phanh thây, uống máu quân thù; đường vinh quang xây
xác quân thù” (Văn Cao). Tuy thế, dân tộc Việt Nam cũng đẻ ra những
trí thức tinh hoa, thấy được tai hại của “Văn hóa Tấm ,Cám”. Phan Chu
Trinh và nhóm Nguyễn Ái Quốc ở Paris đầu thế kỉ 20 đã kế thừa văn
hóa đạo Phật thời Lý-Trần, kết hợp với văn hóa phương tây “Tự do,
bình đẳng, bác ái”, không muốn dùng bạo lực, đổ máu của người dân
để có độc lập dân tộc, nên đưa ra khẩu hiệu “Pháp-Việt đề huề”,
“khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Điều đáng tiếc là, người
Việt rất kính trọng chí sĩ Phan Chu Trinh, hàng vạn người dân đã dự
lễ tang cụ ở Sài Gòn năm 1926, nhưng lại không chấp nhận tư tưởng của
cụ. Phần lớn người Việt cho tư tưởng của cụ Phan Chu Trinh là cải
lương, là ảo tưởng….Vì thế, Tản Đà đã phải thốt lên “ Dân hai mươi triệu, ai
người lớn/ Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”. Họ đã dùng bạo lực để có độc
lập dân tộc, mặc dù phải hy sinh tính mạng đến mức “núi xương, sông
máu”, “dù có phải đốt cả dãy Trường Sơn” (Hồ Chí Minh). Nhưng khi đã
thoát khỏi ách nô lệ thực dân, người ta lại tự đeo vào cổ gông cùm
mới, đậm “Văn hóa Tấm – Cám”, thằng mõ làng lớn bắt nạt thằng mõ
làng bé. Vì thế , lí thuyết đấu tranh giai cấp, đấu tố địa chủ
diễn ra không chỉ trong mỗi làng mà cả trong mỗi gia tộc, đến mức
“Ông không phải là bố tôi” (Lưu Quang Vũ). Người ta hô hào :
Giết, giết nữa, bàn tay không
ngừng nghỉ
Cho đồng ruộng lúa tốt, thuế
mau xong
Cho đảng bền lâu, cùng rập
bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít ta
lin bất diệt (Tố Hữu!)
Trong cải cách ruộng đất
1953-1956, con đấu tố cha mẹ, vợ đấu tố chồng, kẻ mang ơn bịa đặt tố
cáo người gia ơn…. diễn ra phổ biến mà điển hình tột bậc là vụ đấu
tố, xử bắn bà Nguyễn Thị Năm ở Thái Nguyên năm 1953.Dung la lay oan tra
an. Theo cuốn sách “Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000” của Viện kinh
tế học Việt Nam, trong cải cách ruộng đất, có tới 586.000 nạn nhân
bị xử lí, 172.008 người bị giết, trong đó oan sai là 123.266 người,
chiếm 71,66% số người bị giết. Lưu ý là người bị giết oan sai là
theo tiêu chuẩn của nhà cầm quyền. Luật hình sự 1985 qui định con
cháu phải tố cáo ông, bà, cha, mẹ, vợ chồng phải tố cáo nhau, khi
cho là họ mắc tội. Lòng khoan dung, nhân bản của bộ luật Hồng Đức
thời Lê Thánh Tông bị xóa bỏ. “Văn hóa Tấm – Cám” vẫn có giá trị
phổ quát, trở thành mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển nhanh chóng
của học thuyết “đấu tranh giai cấp, với tư cách là động lực của sự
phát triển xã hội”. Bởi, theo Các –Mác, trong Tuyên ngôn của Đảng
cộng sản 1848, “suy cho đến cùng, lịch sử loài người là lịch sử đấu
tranh giai cấp”. Và kết quả cuối cùng của đấu tranh giai cấp tất yếu
phải là sự thiết lập nhà nước chuyên chính của giai cấp vô sản,
không phải là nhà nước của toàn dân, do dân, vì dân”. Vì thế, trong
những năm 1952-1954 ở Việt Bắc, giới trí thức đi kháng chiến phải
“chỉnh huận” để giác ngộ lập trường giai cấp công-nông, tự nguyện
“đầu hàng giai cấp công-nông”, tự lên án cha mẹ, bản thân mình là
thấm đậm nền giáo dục thực dân, làm công trong bộ máy cầm quyền
thực dân là phản cách mạng, có xưởng máy, đồn điền là bóc lột, học
vấn càng cao, càng nhiễm độc văn hóa của thực dân, phong kiến, chỉ
thích hưởng thụ cá nhân, không dám dấn thân. Ai không “tự ngộ”, tự
“xỉ vả” mình thì các đồng chí sẽ giúp mình giác ngộ, bằng những
ngày dài, đêm thâu thực hiện phê bình, kiểm điểm theo kiểu đấu tố xỉ
vả nhau. Không tự tìm thấy khuyết điểm của mình là ngoan cố, không
thành khẩn, chưa giác ngộ giai cấp, là tiểu tư sản, phải cố nghĩ ra
khuyết điểm để chứng tỏ mình đã thấm nhuần học thuyết Mác-Lenin,
Mao Trạch Đông…
Sau 30/4/1975, “bên thắng cuộc”
(Huy Đức), đã cất những lời ca hào hùng, kiêu hãnh, sảng khoái, hân
hoan….”Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng” (Phạm Tuyên), “Đất nước
trọn niềm vui” (Hoàng Hà), “Tiếng hát từ thành phố mang tên Bác” (Cao
Việt Bách…). Niềm kiêu hãnh ấy và “Văn hóa Tấm-Cám” đã dẫn đến những chính sách bịp bợm
và trả thù độc ác đối với “bên thua cuộc”, như chính sách cải tạo mà thực chất là tù không án
đối với những người đã tham gia vào bộ máy cầm quyền của “bên thua
cuộc”, thực thi chiến dịch X1, X2 đối với tư sản, tiêu diệt tầng lớp
doanh nhân văn minh vừa mới hình thành trong nền kinh tế thị trường,
để sau đó hơn 10 năm (1986) lại bắt đầu mở ra kinh tế thị trường hoang
dại, hình thành một tầng lớp doanh nhân thân hữu,lien kết với những kẻ thoai hoa trong bộ máy cầm
quyền, tạo ra các nhóm lợi ích kiểu mafia, chuyen “buon co che,chinh
sach”,thay vi buon vua nhu La Bat Vi ngay xua ,dẫn đến quốc nạn tham nhũng
không thể khắc phục được, đến những vụ cướp đất, làm bần cùng hóa
nông dân, gây nên những “núi” oan ức thấu trời cao, cùng đất kiệt.
Bên cạnh nền “Văn hóa
Tấm-Cám”, cũng có điểm sáng tuy chỉ le lói của văn hóa khoan dung,
nhân bản. Văn nghệ sĩ chân chính và tài ba là những con chim báo bão,
dự đoán tương lai phát triển của mỗi dân tộc. Năm 1976, bài ca “Mùa
xuân đầu tiên” của Văn Cao ra đời là một trong những tia sáng le lói
ấy. Hình như ông đã sám hối, khi cất lên lời ca :”Từ đấy người biết
quê hương, từ đấy người biết thương người; Từ đấy người biết yêu
người” trong giai điệu valse nhẹ nhàng, du dương, êm đềm, đầm ấm.” Mùa
xuân đầu tiên” lại là sự kết thúc của quá trình tự ngộ của Văn Cao,
của dân tộc, đi từ triết lí lấy oán trả oán, “thề phanh thây uống
máu quân thù”, “đường vinh quang xây xác quân thù” đến triết lí khoan
dung “người biết thương người, biết yêu người”. Chính vì sự “mơ hồ
lập trường giai cấp,”nhưng đậm tính nhân loại , nên ” Mùa xuân đầu
tiên” chỉ xuất hiện trên báo “Sài Gòn giải phóng” xuân Bính Thìn 1976,
và phải đợi 20 năm sau, khi Văn Cao chết, nó mới được cất lên trên sàn
diễn và các phương tiện thông tin đại chúng. Một chính trị gia hiếm
hoi, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng đã ngộ ra như Văn Cao khi ông phát
biểu, đại ý:”Ngày 30 tháng 4 nên gọi là ngày hòa bình, thống nhất
nước nhà, đừng gọi là ngày giải phóng Miền Nam. Bởi vì ngày đó,
có một triệu người vui ,thì cũng có một triệu người buồn”.
Những hậu quả tiêu cực của
xã hội ta hôm nay trên tất cả các lĩnh vực bắt nguồn từ “Văn hóa
Tấm-Cám”. Đừng đổ cái lỗi ấy cho bất kỳ nhóm người nào, cho ý
thức hệ nào. Bởi vì, dù là ý thức hệ nào, nó cũng chỉ là trào
lưu tư tưởng của xã hội loài người, vốn rất đa nguyên, nhiều nhóm
lợi ích….Tiếp thu ý thức hệ nào tùy thuộc ở văn hóa của mỗi dân
tộc, mỗi gia tộc và mỗi con người cụ thể. Bản thân ý thức hệ không có lỗi. Nhóm người
nào, dù có ý thức hệ quốc gia hay quốc tế cộng sản đều là một bộ
phận của dân tộc Việt, là kết quả của hàng ngàn năm dựng nước và
giữ nước, của quốc gia Việt Nam, đều là “con Lạc, cháu Hồng”. Tại
sao các nước quanh ta, như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Myanmar, India….,
họ không tiếp thu học thuyết đấu tranh giai cấp?? Không dùng bạo lực
để chống bạo lực? Chính quyền của họ không được đẻ ra trên nòng
súng như Mao Trạch Đông nói?. Không lấy oán trả oán? Nhưng cuối cùng,
hiện nay, họ không những giành được độc lập dân tộc trọn vẹn, mà
còn phát triển, hơn ta nhiều lần, về mọi mặt. Rất tiếc là đã có
một Mahatma Gandhi, một Nelson Mandela của Việt Nam, là Phan Chu Trinh,
nhưng dân ta lại không chấp nhận tư tưởng của ông, nên đã không đạt được
thành tựu như India và Nam Phi.
Nhưng lịch sử không có “chữ
nếu” hay “giá như”. Sự kiện lịch sử chỉ diễn ra một lần duy nhất,
tuy rằng người ta có thể viết nhiều lần về cùng một sự kiện ấy,
dưới góc nhìn khác nhau. Phê phán nhau lúc này là “xa xỉ”. Phải trở
lại tư tưởng Phan Chu Trinh: mọi tầng lớp xã hội sống đề huề trong
khoan dung, khai dân trí, chấn dân trí, hậu dân sinh. Có dân trí và dân
khí cao, con người sẽ vượt qua nỗi sợ hãi, để xây dựng lại đất nước
từ nền móng, theo xu hướng thời đại, hội nhập với thế giới văn minh.
Bởi dân nào chính phủ ấy, chứ không phải ngược lại. Cho nên tầng lớp trí thức tinh hoa phải dấn
thân trong sự nghiệp khai dân trí, xóa bỏ “Văn hóa Tấm –Cám”, xây dựng
văn hóa khoan dung, nhân bản, mọi người đều thắng. Hãy khép lại cánh
cửa của quá khứ hàm hồ [Dương Thu
Hương] và mở ra cánh cửa của tương lai nhân bản và dân chủ cho Việt
Nam. Nelson Mandela, sau 27 năm bị tù đày, đã rất chí lí và sâu sắc,
khi nói, đại ý :” Bước ra khỏi cánh cửa nhà tù, nếu tôi vẫn mang
theo lòng hận thù, thì tôi vẫn là một tù nhân”. Hòa giải, tha thứ
và khoan dung để cùng nhau xây dựng lại (reengineering hay perestroika,
không phải tái cấu trúc- restructuring) đất nước về mọi mặt kinh tế, xã hội,
văn hóa, môi trường tự nhiên và nhân văn. Đó là con đường duy nhất đưa
Việt Nam đến vị thế sánh vai cùng các nước phát triển trong khu vực
và thế giới./
P/S : Không có quốc gia nào chọn
được quốc gia láng giềng. Không con người có thể chọn được sắc tộc, dân tộc và
cha mẹ. Nhưng con người có thể chọn được quốc tịch. Mà những con người có khả
năng tự chọn quốc tịch cho mình hầu hết là người thông minh thuộc giới tinh
hoa, là nguyên khí của quốc gia. Thế hệ hôm nay phải làm hết sức mình để con
cháu chúng ta không buộc phải chọn cách “bỏ phiếu bằng chân” [Ly.dai ngu] để
thay đổi quốc tịch của mình.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét