1- Mẹ Việt nam, chưa hề thai
nghén và đẻ ra cái gọi là Đảng CS Việt nam. Ai đó, đã cưỡng hiếp ai đó. Để rồi
sau đó, chót sinh ra nó, ở trên đất Tàu. Tố Hữu – một Dư luận viên cao cấp,
trong một đận trà dư – tửu hậu, đã hứng chí mà phọt ra mấy vần gọi là thơ, để
mô tả về cái sự kiện này:
Như đứa trẻ, sinh nằm trên cỏ.
Không quê hương, sương gió tơi bời.
Đảng ta, con của giống giòi (à
quên, giống nòi).
Một hòn máu đỏ, nên người hôm
nay.
Dưới con mắt của Tố Hữu, Đảng của
ông ta hiện ra, không khác gì lũ ma quái:
Đảng ta đó, trăm tay – ngàn mắt.
Đảng ta đây, xương (bằng) sắt –
da (lại bọc một tí) đồng.
Trăm cánh tay đó sinh ra, không
phải để có thêm lực lượng lao động. Từ đó, làm ra thật nhiều của cải cho Xã hội.
Trăm cánh tay đó, như những vòi của con bạch tuộc. Chúng chỉ biết có mỗi việc:
quấn chặt lấy đồng bào và hút kiệt sinh lực của họ. Ngàn cặp mắt kia sinh ra,
không phải để chiếu rọi khắp nhân gian – để thấu hiểu niềm vui và nỗi khổ đau của
nhân loại. Ngàn cặp mắt đó, là những con mắt cú vọ. Chúng săm soi từng ngõ
ngách – mọi hành vi, thậm chí, từng ý nghĩ của mỗi con người. Chúng muốn nhuộm
đen từng người dân lương thiện và cưỡng bức họ, bắt phải làm tai mắt cho chúng.
Biến họ, thành lũ chỉ điểm thấp hèn. Trong cái chuyện này, Luật sư cũng không
được loại trừ.
2- Sinh ra trong bão táp, nhưng
loài nghiệt chủng này, không chết yểu. Nó được con mẹ phù thủy Trung cộng hà
hơi – tiếp sức – bú mớm và dạy dỗ cho từng li – từng tí. Chính vì thế, mỗi bước
trưởng thành của Đảng CS Việt Nam, đều in đậm dấu ấn của của mẫu quốc Tàu phù.
Tuy chỉ là con nuôi, nhưng “giọt máu đào, hơn ao nước lã”. Cho nên, tam khoanh
– tứ đốm, trước sau nó cũng phải hướng Tàu và thần phục Thiên triều. Chú Sam –
cậu Tây và ngay cả cái nhà bác Nhật lùn, tuổi gì mà mơ sẽ ve vãn được nàng tiên
Việt cộng. Một nàng tiên, với đầy đủ những nét kiều diễm – kiêu sa: Đầu chốc,
môi sứt – Ghẻ lở toàn thân – Chấy rận đầy mình. Đã thế, lại còn, hôi nách – thối
tai và toét mắt.
“Con nhà tông, không giống lông
thì cũng phải giống cánh”. Trong cái khoản tàn ác – bạo ngược và dối trá, chúng
giống bà mẹ nuôi, như 2 giọt nước. Đã chót nhận họ hàng, cho nên, cả lò – cả ổ
nhà chúng, đều mang họ Hứa. Hứa lèo và nói láo thành thần. Đó là bản chất “thâm
căn – cố đế” của tất cả cái lũ CS.
– Xưa, để lôi kéo đám quần chúng
nghèo hèn và thất học, chúng thả thính: “nhà máy, về tay thợ thuyền – ruộng đồng,
về tay dân cày”. Tưởng bở, đám quần chúng kia, rầm rầm chạy theo chúng. Những
tin, “dây máu sẽ được ăn phần”. Nôm na, đi theo lũ kẻ cướp, sẽ được chia của và
sẽ được đổi đời. Gian khó, chẳng sờn lòng – chết chùm, không quản ngại. Chỉ
mong, sớm được thành “chính quả”. Nghĩa là, nắc nỏm mong, sẽ dỡ được chuồng xí
của thiên hạ về, để làm nhà của mình.
“Sống lâu, mới biết đêm dài/ Ở
lâu, mới biết lũ người bất nhân”. Thoắt cái, người dân Việt “đã hơn bảy chục năm
trời/ làm thân trâu ngựa, cho loài khuyển dương”. Hiểu ra được bản chất của
chúng, thì đã quá muộn.
Bây giờ, chỉ có hạng đui – què –
mẻ – sứt, loại thiểu năng về trí tuệ và lũ vô liêm sỉ, mới tin rằng: Lũ quỉ đỏ,
sẽ có lúc, thực hiện được lời hứa của mình.
– Hồ Chí Minh, trong bản Tuyên
ngôn Độc lập nổi tiếng của mình, đã từng đưa ra cho dân Việt, cái bánh vẽ Nhân
quyền: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những
quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được Sống –
quyền Tự do và quyền mưu cầu Hạnh phúc”. Điểm lại, tất cả những lời hứa đó, đều
bị đồng đảng của ông ta xù. Chỉ nói riêng về cái quyền được Sống: Con dân của đất
Việt, bị Đảng CS, coi chẳng bằng con vật. Thích, là chúng bắt người – ngứa mắt,
là chúng đánh người – muốn có tiền, chúng ngang nhiên thò tay vào túi của người
khác, để lấy. Chống cự, chúng cho vào tù. Thủ đoạn cướp của lũ thổ phỉ này,
muôn hình – vạn trạng. Từ cái cách dùng sưu cao – thuế nặng, cho đến, trắng trợn
đưa ra những chiêu bài, đại loại như “cải cách ruộng đất” – “cải tạo Tư bản” hoặc
đơn giản hơn, chỉ là “kiểm tra hành chính”. Tất cả, để cướp không tài sản của
những người giàu. Không hiếm trường hợp, cướp của, còn đi kèm với giết người.
Dăm ba cái mớ luật rừng, chính chúng,
tự in ra. Sau đó, cũng chính chúng, tự thông qua. Nhưng rồi, đối với chúng, những
cái mớ giẻ rách kia, giỏi lắm, cũng chỉ sánh ngang được với những cuộn giấy trắng,
dùng trong các nhà vệ sinh.
– Đến đời Phú Trọng, ông này,
công khai đối đầu và “quyết liệt” chống tham nhũng. Ông và cả cái đám thuộc hạ
vừa tham – vừa dốt của ông, đều cố tình bịp bợm, để thiên hạ tin rằng: Tham
nhũng, là nguyên nhân cơ bản và trực tiếp, làm cho chế đô CS sụp đổ. Chế độ CS
mà sụp đổ: Đất nước, sẽ tan hoang – dân chúng, sẽ đi ăn mày. Dân ta, bây giờ,
đã sáng mắt ra rồi. Họ, đâu có dễ phung phí niềm tin của mình. Họ, nghe ông
nói. Nhưng quan trọng hơn, họ chờ để xem, những việc ông làm.
Họ chờ xem, ít nhất, ông có dám
lôi cái thằng lâm tặc “răng chắc – cxx bền” ra, để hạch tội: Năm đời – mười đời
của cái thằng bố nhà mày, đều là lũ khố rách – áo ôm. Vậy, mày lấy đâu ra tiền,
để xây biệt phủ và ăn chơi đàng điếm đến như thế?
Họ chờ xem, ông có dám lôi mỗi tỉnh
– mỗi huyện – mỗi xã ra, cho dù, chỉ 1 thằng lâu la của ông. Những thằng này,
chỉ riêng mớ của nổi trưng ra thôi, đã thừa đủ để khép tội ăn cướp và tru di cửu
tộc nhà chúng nó.
Họ cứ việc chờ và trong lúc đói
khát, cứ cố nuôi chút hy vọng hão huyền. Chứ thực ra, ai cũng biết, Phú Trọng
cũng chỉ là một trong những cái thằng hứa lèo và lừa đảo giỏi nhất của cái Đảng
CS đểu. Họ cũng thừa biết: Tuy mắt không lác, nhưng ông chuyên trị “nhìn rau –
gắp thịt”. Tất cả những mũi dùi của cái gọi là “công cuộc phòng chống tham
nhũng” của ông, trước sau, cũng chỉ nhằm tới mỗi một mục đích: “triệt hạ Ba X”.
Để, rửa cái nỗi nhục, bị cừu thù xỏ mũi và bị buộc phải lũn cũn bước theo nó,
thuở nào.
“Rau nào – sâu ấy”. Trên thì như
thế, cấp dưới, nào có khá hơn gì. Hà nội đó, có anh Hứa Đức Chung. Anh này,
phóng khoáng và không hề, hà tiện lời hứa.
– Công dân Trịnh Thanh Tùng, mắc
mỗi một cái lỗi cỏn con. Đó là, đi xe máy, bỏ mũ bảo hiểm ra, để nghe điện thoại.
Ông bị lũ ác ôn CS lôi vào đồn Công an. Ở đó, chúng đánh ông đến gãy cổ, mà chết.
Cả xã hội sục sôi và căm giận. Lo sợ, “mùa Xuân Ai cập” sẽ đến sớm ở Việt nam,
đám CS, tính bài lấp liếm. Hứa Đức Chung, được phân công xuống gặp con gái của
nạn nhân. Tại cuộc gặp này, ông ta khuyên Trịnh Kim Tiến: nhanh chóng chôn cha
và hứa, sẽ giải quyết rốt ráo vụ việc. Dĩ nhiên, ông ta cũng không quên hứa, sẽ
nghiêm trị kẻ thủ ác. Lời hứa của ông ta, đã được thực hiện đến đâu? Xin độc giả,
chịu khó tra “gúc gồ”.
– Hứa Đức Chung, cũng từng sai
lính xuống nhà lão Dân già. Ở đó, đám sai nha kia, khuyên lão Dân già “không
làm phức tạp thêm tình hình”. Nói toẹt ra, đừng bóc mẽ chế độ CS nữa. Bù lại,
ông ta sẽ tác động, để Chính quyền CS, phải nôn ra số tiền hàng chục tỷ VND, mà
chúng đã lừa đảo và ăn cướp của lão. Ba năm trôi qua, lời hứa kia, đã theo gió
mà bay đi mất rồi. Cho dù, ông ta đã ngồi vào cái ghế Chủ tịch của Hà nội.
Nghĩa là, thừa uy quyền và đủ khả năng, để trong “phút mốt”, giải quyết dứt điểm
vụ việc lừa đảo và ăn cướp nói trên.
– Gần đây nhất, Hứa Đức Chung
cũng đã liều mạng, mà xuống điểm nóng Đồng Tâm. Trong cuộc gặp với bà con, ông
ta trổ tài bịp bợm và lải nhải nói ra, ối điều nhân nghĩa. Điều nào, cũng hay –
lời nào, cũng có cánh. Nghe Cuội hứa, dân chúng, nào có tin. Sợ rằng, “lời nói
– gió bay”. Họ bắt ông: Hứa cái gì, phải thể hiện nó ra trên giấy trắng – mực
đen. Tiếp đó, chẳng tin vào cái triện củ khoai của Chính quyền, họ bắt ông, phải
điểm chỉ bằng son hồng. Ngụ ý, đôi bên đã cùng lập đàn thề. “Một lời nói – một
đọi máu”. Lần này, những kẻ đê tiện, quen thói lừa lọc mà nuốt lời, sẽ bị Trời
đánh – Thánh vật. Để, nếu không chết như con chó thui, thì cũng phải hộc máu mồm
ra, mà chết.
Người dân Đồng tâm nói riêng và
người dân cả nước nói chung, chẳng phải đợi lâu. Chưa đầy 2 tháng sau, Cuội và
đồng đảng, đã trơ tráo nuốt lời và trắng trợn lật lọng. Có lẽ, vì dốt, nên Cuội
không biết tình cảnh của mình. Đồng bọn của Cuội, đã chạy làng và giờ đây, mọi
tội lỗi, đã được chúng đổ lên đầu Cuội và chỉ riêng một mình Cuội. Cuội, đang
phải sống giữa 2 làn đạn. Biểu hiện rõ nhất, Cuội đang phải vất vả bơi một
mình, giữa cái đống nước bọt của người đời và đang bị Đảng CS treo trên đầu cái
án kỉ luật. Can tội, theo đuôi quần chúng và xử lí công việc một cách vô nguyên
tắc. Mọi việc, đâu đã dừng lại tại đó. Chúng ta hãy chờ và hãy tin rằng: “Trời
xanh, có mắt”. Lưới trời, lồng lộng. Tuy thưa, mà khó lọt. Từ xưa – đến nay, những
kẻ hèn nhát và bội tín, chưa ở đâu và chẳng bao giờ, có được cái chết yên lành.
3- Có một con mẹ CS, quyền cao –
chức trọng. Hiềm một nỗi, cái tên của nó, mình lại quên béng mất rồi. Thị mẹt
này, một mặt, chê cán bộ CS của mụ, rặt 1 lũ cướp ngày. Chúng “ăn của dân,
không từ 1 thứ gì”. Mặt khác, thị vẫn gân cổ cò – co cổ ngỗng mà cho rằng, chế
độ CS của thị “ngàn – vạn – triệu – tỷ lần, ưu việt hơn so với cái bọn Tư bản
thối tha”. Cái bọn, mà cả thị và đám đồng đảng, đều ao ước: có được Hộ chiếu của
chúng – đem được đám con cái sang đó, trao cho cái bọn thối tha kia dạy và gửi
được sang đó, mớ tiền, mà chúng đã lừa đảo được của Nhân dân và ăn cướp được của
Đất nước. Chẳng cần phải là thày bói, cũng dư sức phán: Cái con mẹ kia, “phi đầu
đất, tắc vô liêm xỉ”. Tiến sĩ đếch gì, cái hạng ấy.
Nó, đâu phải là trường hợp cá biệt.
Đám quan chức của CS, từ Đảng trưởng trở xuống, “mười thằng, như một chục”.
Chúng đều có tư cách và trí tuệ, giống y như thế. Tất cả bọn chúng, đều không
bao giờ bỏ lỡ dịp, để khoe với thiên hạ, về những cái ngu và những cái dốt của
mình.
Trong cái đám lau nhau vô tài –
thất đức ấy, Võ Văn Thưởng nổi lên, như một hiện tượng đặc biệt. Trẻ tuổi – đẹp
trai, lại thêm “Thiếu niên, đăng khoa”. Nhưng ông không dựa vào đó, để lên mặt
với đời. Ông sống khiêm nhường – kiệm lời và chưa vướng nhiều vào những cái
chuyện lùm xùm. Như, lũ đồng đảng. Nhiều người, có thiện cảm với ông. Chỉ đến
khi, ông ăn phải củ ráy, nên ngứa mồm và phát biểu: “không ngại đối thoại, với
những người bất đồng chính kiến”. Lần này, cả Xã hội, buộc phải lên đồng. Người
ta tranh nhau đào xới – bới lộn, những ẩn ý, chứa trong lời nói của ông và phán
loạn cả lên:
– Thứ nhất, đã đến lúc, Việt nam
cần phải có “đa nguyên”. Chứ gì nữa, muốn tranh luận, chí ít, cũng phải có “nhị
nguyên”. Chẳng có nhẽ, Thưởng lại tự lảm nhảm tranh luận với chính mình. Để,
thiên hạ nghĩ rằng: thêm cái chuyện bốc cát bỏ đầu, ông sẽ trở thành thằng điên
điển hình?
Một sự “tự diễn biến”, hết sức
ngoạn mục.
– Thứ 2, đối thoại để tìm ra chân
lí, bao giờ cũng tốt hơn, so với đối đầu. Đối đầu nếu có, chỉ nên dành riêng
cho cái đám vai u – thịt bắp và thiểu năng về trí tuệ. Từ xưa đến nay, đồng đảng
của Thưởng, toàn dùng cách này và xem ra, nó không hề có hiệu quả.
Một sự “tự chuyển hóa”, không thể
tuyệt vời hơn.
– Thứ 3, ông tin tưởng chắc chắn
rằng, trong những cuộc đối thoại ấy, ông đứng trên thế thượng phong và có thể
chiến thắng đối phương, một cách áp đảo. Có lẽ, ông đã có trong tay “con bài tẩy”:
Một phù thủy, đã thành tinh trong cái việc ăn gian – nói dối.
Niềm tin ấy của ông, thật ngây
thơ. Cái ngây thơ của một kẻ, không có nhiều kinh nghiệm trên chính trường– Niềm
tin ấy của ông, rất mãnh liệt. Tính mãnh liệt của một kẻ, vô pháp – vô luân. Đã
thế, lại độc quyền về bạo lực – Một niềm tin, hoàn toàn không có cơ sở. Niềm
tin của những kẻ dốt nát, nhưng lại muốn độc quyền về Chân lý.
4- Này, ông Võ Văn Thưởng:
– Thứ nhất, cái cụm từ “không ngại
đối thoại”, lẽ ra, phải có xuất xứ từ Nguyễn Phú Trọng – đảng trưởng của cái Đảng
CS Việt nam. Ông này, vốn nổi danh là một gã phổi bò, quen thói “ăn, không nhai
– nói, không nghĩ”. Chua xót thay, một con người có tiếng là chín chắn và kín kẽ
như ông, lại phải nói ra nó. Điều đó, khiến chúng tôi nghi ngờ. Trong cái chuyện
này, hình như, đã có ai đó, muốn tay ông cũng phải nhúng chàm, như chúng. Cho
nên, chúng bắt ông phải chơi trò “leo cột mỡ”. Giống như, chúng đã từng bắt Ba
X, phải đọc bài diễn văn chửi Mỹ, trong cái ngày định mênh 30-4 của năm 2015.
– Thứ hai, tranh luận với “các thế
lực thù địch và phản động”, là hành động hết sức ngu xuẩn. Bởi, phần thua nhục
nhã, chắc chắn, sẽ thuộc về các ông. Lão biết, tầm của các ông, ai cũng thông
minh hơn những con bò. Bởi thế, khi đấu cờ, toàn hấp tấp “đi nước một”. Chẳng
ai, nghĩ đến những bước tiếp theo. Lão hỏi ông: “Sau khi đã chót ị ra câu ấy,
ông đã bao giờ nghĩ một cách hết sức nghiêm túc, về chuyện: Thi đấu với đối tượng
nào – Thi đấu trên sân nào – Thi đấu về đề tài gì và với ông trọng tài nào, hay
chưa?”.
Về phần mình, cứ nghĩ đến cái cuộc
đấu ấy, lại thấy thương hại các ông, vô cùng. Để góp phần giúp các ông giảm thiểu
thất bại, lão bày cho ông, mấy cái mẹo này:
a- Trước hết, hãy dùng kế 釜底抽薪.
Phủ để trừu tân. Nghĩa là, rút củi đáy nồi. Nôm na, hãy dội nước lạnh vào những
cái đầu đang hừng hực khí thế, muốn thi đấu với các ông.
Lão kể ông nghe, một điển cố.
Trong đệ nhị Thế chiến, có một lần, bọn Đức tổ chức một cuộc “đá bóng thi” và
lùa dân chúng, đến xem. Đó là cuộc đấu, giữa một bên, là đám lính Đức và bên
kia, là đám tù binh của Đồng minh. Trọng tài và sân đấu, tuốt tuột, đều do bọn
Đức chọn. Thể hình và thể lực của đôi bên, đều nghiêng hết về phía đám lính Đức.
Tuy vậy, chúng vẫn chưa yên tâm. Chúng tập hợp đội bóng của đối phương lại và
tuyên bố thẳng thừng: Nếu đội Đức thua, tất cả chúng mày, sẽ bước thẳng ra pháp
trường. Ối người trong đội bóng Đồng minh đã ngã lòng – chùn bước. Trận đấu, bắt
đầu và chung cuộc của nó? Người ta, đã dựng thành phim. Ông bảo bọn lâu la tìm
về và chiếu cho mà xem. Đảm bảo, hay mọi nhẽ.
Xem xong, hãy học bọn Đức. Nghĩa
là, đặt dăm ba cái xe tù trong sân của nhà thi đấu và chĩa loa ra bên ngoài.
Sau đó, công bố luật lệ: Nếu đội Tuyên giáo mà thua, tất cả những người thắng,
sẽ được vinh danh và sẽ được lĩnh phần thưởng. Cụ thể, tất cả những người thắng
cuộc, sẽ được bước chân lên những chiếc xe tù kia. Sau đó, sẽ được chở thẳng
vào những trại tập trung và sẽ được phục vụ ăn nghỉ miễn phí ở đó, cho đến khi…
hết đời. Đảm bảo với các ông, 90% những người muốn tham gia thi đấu, sẽ phải
lùi lại. Đừng vội nghĩ, họ hèn. Không dám thi đấu, bởi dưới cõi trần ai, họ còn
vô số những công việc, không thể bỏ dở và vô số những trách nhiệm, không dễ thoái
từ. Trong đó, có trách nhiệm với những người thân yêu nhất của họ.
“Bớt một con, nhòn một mũi”. Cổ
nhân, vẫn thường dạy như thế và các ông, nên làm theo như thế.
b- Trong cái số kiên định còn lại,
ông hãy dùng cách 避实击虚. Tị thực
kích hư. Nôm na, tránh tranh luận với những tay hùm beo và thuồng luồng sừng sỏ.
Những tay ấy, cứ dùng cái món võ cùn “canh cửa”, thế là xong. Qua dăm ba bước
lược, số còn lại, rặt những phường bạc nhược và “không có lí luận”. Tỷ như, lão
Dân già. Lão này, giỏi lắm cũng chỉ là một ông giáo dạy toán cấp 2 và chưa từng
bước chân vào cái lò tôi luyện “ăn gian – nói dối” của Đảng CS. Loại này còi
còi, “vừa miếng – dễ nuốt”. Thi đấu với những loại ấy, mới có cơ may dành chiến
thắng, phải không ông?
c- Nói thật với ông, lão đây rất
muốn khoác áo đội tuyển của lề dân, để thi đấu với các ông – những tay “có lí
luận” và đê tiện vào bậc nhất của cái Đảng CS đểu. Từ Đảng trưởng trở xuống,
các ông, hãy xếp thành một hàng dọc, rồi lần lượt “thua ra – được vào”, để thi
đấu với phe của lề dân. Nếu thấy, vẫn chưa đủ tự tin, các ông hãy xếp thành một
hàng ngang, rồi xông lên cả lượt. Đảm bảo rằng, các ông, “ra 1 con, là sẽ chết
1 thằng – ra 1 đàn, là sẽ chết 1 lũ”.
Lão kể ông nghe, chuyện cũ. Cách
đây hơn 1 năm, có 2 lâu la của ông, đã từng mang dao – xách kiếm đến tận nhà của
lão Dân già và thách đấu. Thằng thứ nhất, là Mõ làng. Thằng này, bản lĩnh
xoàng. Đánh nhau được có mỗi hiệp, đã co giò chạy mất hút. Thằng thứ 2, là Nhân
văn Việt nam. Bản lĩnh, khá hơn tí chút. Đánh nhau với lão, được tới tận hiệp
thứ 2. Sau đó, lặn biến, chẳng thấy tăm hơi. Từ đó đến giờ, đám con nít miệng
còn hôi mùi sữa của các ông, đều cạch mặt lão. Lần này, tự ông xuất tướng. Với
bản lĩnh đầy mình, có nhẽ nào, ông lại kém chúng?
d- Lẽ thường, khi cãi nhau: “Sư
nói, sư phải – vãi nói, vãi hay”. Ai cũng nhìn đời, bằng cái hệ qui chiếu của
mình. Cho nên, “thi đấu với nhau, không có trọng tài, bất phân thắng bại”.
Đến thi đấu với phe lề dân, hiển
nhiên, các ông không thể thiếu cái gậy – vật bất li thân. Ngoài ra, lão đồ rằng,
trong cái bị mà các ông đem theo, ắt chỉ chứa cái mớ lí luận Mác – Lê đã bốc
mùi thối hoắc và thứ ăn kèm với nó, là tí dưa góp “tư tưởng Hồ Chí Minh”. Xưa
nay, những thứ đó, được dùng làm “kim chỉ nam”, cho cái bọn đầu sỏ CS đê tiện.
Dựa vào cái “kim chí nam” ấy, bọn dốt nát và hung bạo như chúng, mới có thể tiếm
quyền – thâu tóm và vơ sạch được mọi quyền lợi của Nhân dân – của Đất nước.
Các ông, dùng cái mớ lí luận cùn
gì để thi đấu, lão đây không quan tâm và bà con cả nước, cũng không quan tâm. Chúng
ta, hãy mặc định với nhau: “Thực tiễn, là thước đo của Chân lý”. Và, chọn thực
tiễn, làm ông trọng tài công minh cho cuộc đôi co này. Lý luận của ai bị thực
tiễn phủ nhận, người ấy thua.
e- Cổ nhân có câu: “Chim khôn, thử
tiếng – Người ngoan, thử lời”. Đối thoại, cũng thê. Nó cần phải công khai –
minh bạch. Ít nhất, để quần chúng biết, cái tâm và cái tầm của lũ CS khốn kiếp.
Ngại gì, mà phải “áo gấm – đi đêm”?
Vì thế, thi đấu với nhau, nên tổ
chức ở giữa sân đình. Các ông, có ngót nghìn tờ báo và tạp chí – hàng trăm cái
đài phát thanh và truyền hình. Hãy chọn một trong số đó, để làm sân chơi. Sau
đó, thông báo rộng rãi với khán giả. Để, bà con có dịp đến đó, mà thưởng thức
trình độ và tư cách của những người CS. Riêng lão, là dân đen. Lão, không có báo.
Bởi thế, lão mời các ông, đến với báo Tiếng Dân – một sân chơi hết sức Dân chủ.
Nơi đó: Ai, cũng có thể đến dự – Ai, cũng có thể nói lên chính kiến của mình.
Tiếng Dân, chấp nhận và tôn trọng
mọi quan điểm khác biệt và không kiểm duyệt tư tưởng của bất kì một ai. Lão chắc
chắn rằng họ không ngại và né tránh tranh luận. Họ cho rằng, có tranh luận, mới
tìm được ra Chân lý. Về điểm này, họ giống hệt những lời tuyên bố hùng hồn của
các ông. Duy nhất, có một điểm khác biệt: Họ nói và họ làm. Còn các ông, sau
nói, là lờ.
Chúng ta, hãy thi đấu luân lưu.
Nghĩa là, có trận lượt đi và cũng sẽ có trận lượt về. Trên sân của ông, sẽ nêu
những luận điểm của các ông và những bài phản biện của lão hoặc của bà con. Ngược
lại, Tiếng Dân, cũng sẽ làm y như thế.
Trong trường hợp cù nhầy, các ông
có thể chọn Tòa án làm sân chơi, cũng được. Miễn sao, đừng có đê hèn. Đừng bịt
miệng đối phương và hãy xét xử một cách công khai. Nghĩa là, mở toang cửa Tòa
án, đón quần chúng đến xem. Đồng thời, không hạn chế các phóng viên trong và
ngoài nước, đến dự.
f- Cuối cùng, là chọn đề tài.
Lão dám chắc rằng, ông đã từng
nghe chuyện Mạc Đĩnh Chi đi sứ. Lần ấy, ngài đến ải Pha lũy muộn. Vì thế, theo
thông lệ, không được qua quan ải. Viên quan giữ ải của nhà Nguyên, đùa ngài:
“Quá quan trì, quan quan bế, nguyện
quá khách quá quan”
Nôm na: Đến ải trễ, cửa ải đóng,
quí khách phải chờ đợi, thì mới được thông quan.
Không để đối phương chờ lâu, ngài
đưa ra đáp án:
“Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh
tiên sinh tiên đối”
Nghĩa là: Ra câu đối dễ, đối câu
đối khó, xin tiên sinh đối trước.
Vế đối, vừa chuẩn – vừa chỉnh.
Không những thế, còn lùa được đối phương vào chính cái bẫy của họ. Quan giữ ải,
phục lắm. Lập tức phá lệ và mở cửa ải, trân trọng đón tiếp sứ thần.
Kể câu chuyện này để thấy: Người
đưa ra đề tài, bao giờ cũng dễ và luôn ở thế chủ động. Người xử lí cái đề tài ấy,
bao giờ cũng khó và luôn ở thế bị động. Phải thông minh cực kì, mới có thể ứng
đối và xử lí nó, một cách nhuần nhuyễn. Còn cái loại ngu đần, sao có thể làm
như thế được. Ông còn nhớ chuyện Đảng trưởng của các ông, bị Joe Biden – Phó Tổng
thống Hoa kỳ, lẩy Kiều giỡn mặt đó không?
Thương các ông, toàn một lũ đầu đất.
Quanh năm – suốt tháng, chỉ biết “gà què, ăn quẩn cối xay”, lão chấp các ông,
tùy ý chọn đề tài. Nhớ, phải tránh sở trường của đối phương và khoét sâu vào sở
đoản của họ. Có thế, mới dễ giành được thắng lợi.
Trong trường hợp, các ông vẫn
nhùng nhằng chưa quyết, bài đầu tiên, để lão giúp các ông chọn đề tài. Dĩ
nhiên, chọn theo sở trường của các ông: “Đảng Cộng sản Việt nam, người tổ chức
và lãnh đạo mọi thắng lợi của Cách mạng Việt nam”. Đề tài này, ông đếch nào
trong các ông, chẳng học thuộc lòng. Tuy vậy, lão vẫn dành cho các ông 1 tháng,
để đăng đàn nói về cái đề tài ấy. Sau đó, sẽ đến lượt lão: “Đảng Cộng sản Việt
nam, đã làm được cái đếch gì, cho Dân tộc Việt nam và cho Đất nước Việt nam”.
5- Võ Văn Thưởng à!
Thời Tam quốc, Khổng Minh, năm lần
– bảy lượt đem quân đi đánh Ngụy. Xôi hỏng – bỏng không. Lần nào, cũng phải rút
quân về nước. Bởi, địch thủ Tư Mã Ý của ông ta, kiên trì thực thi sách lược: 城坚、池深、粮多、人一哉. Thành kiên – trì thâm – lương đa – nhân nhất
tai. Nghĩa là: thành quách kiên cố – hào nước rộng sâu – lương thực tích nhiều
và quan trọng nhất, trên dưới đều đồng lòng. Tất cả, đều rúc nách vợ – đóng cửa
thành và đếch ra đánh. Khổng Minh, ức lắm. Ức đến mức, hộc máu mồm ra, mà chết.
Trước nay, trong cái cuộc đấu
tranh trên lĩnh vực Tư tưởng, các ông cũng thái thủ sách lược này. Các ông, cố
thủ dưới đũng quần của mấy thím Công an – các ông, không tranh luận với đối lập
– các ông, nằm trong đó, chõ mỏ và xưng xưng nói vọng ra bên ngoài: “Chủ nghĩa
Mác – Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, là vô địch và bách chiến – bách thắng”.
Còn cái chuyện nó vô địch hoặc bách chiến – bách thắng như thế nào, các ông, đếch
chứng minh được.
Lần này, thật ngạc nhiên, chính
ông viết chiến thư, để khiêu chiến với phe của lề dân. Vì thế, lão tin tưởng một
cách hết sức chắc chắn rằng: Các ông, sẽ thể hiện bản lĩnh của một thằng đàn
ông và các ông, sẽ không nằm cố thủ mãi trong cái thành trì ấy nữa. Trong đó rậm
rạp – tối tăm – ẩm ướt – chật chội và hôi hám vô cùng. Hãy bước ra ngoài ánh
sáng của Mặt trời – tuốt kiếm ra và thi đấu một trận. cho nghiêm chỉnh.
Chết vinh, còn hơn sống nhục. Lão
và bà con, đang chờ các ông, nơi chiến trường.
Nguyễn Tiến Dân
Tel: 0168 – 50 – 56 – 430
Địa chỉ: Vì tin vào cái lũ CS đê hèn, nên bị chúng lừa
đảo, cướp sạch của cải. Bởi thế, mất nhà và trở thành dân du mục. Nay đây – mai
đó, chưa có nơi ở cố định
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét