Những đảng viên Cộng Sản không được
học khái niệm về “ecosystem.” Chủ nghĩa Mác xít nhìn thế giới như một bộ máy,
như cái đồng hồ, vì thời Karl Marx còn sống ông chỉ có thể thấy “mô hình” đó. Lối
nhìn máy móc này khiến các lãnh tụ cộng sản nghĩ kinh tế thị trường theo một
cách máy móc, hư đâu sửa đó. Vì vậy, kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục tụt hậu so với
lân bang. Vì có một mỏ vàng không được khai thác, là giới kinh doanh trẻ tuổi.
Tạm dịch “ecosystem” là một “hệ
sinh thái” (người Trung Hoa gọi là sinh thái hệ thống, 生態系統) (chữ eco ở đây viết
tắt ecology, sinh môi, không phải economics, kinh tế). Một hệ sinh thái bao gồm
các sinh vật, sống với nhau và những thứ vô tri giác. Tất cả tác động lẫn nhau,
tạo nên một hệ thống sinh thái. Thung lũng điện tử ở vùng Vịnh California là một
hệ sinh thái kinh tế. Những người sống trong đó thành công nhờ hợp tác và cạnh
tranh với những người khác, có những quy luật kinh doanh, những nguồn vốn, gần
gũi các nhà cung cấp và thị trường tiêu thụ, và cả một hệ thống pháp luật của nước Mỹ bảo vệ các quyền tự do và quyền
tư hữu.
Sonny Vũ thành công ở Thung lũng
Điện tử, như đã kể trong bài trước, vì đã từng làm việc với các người lãnh đạo
công ty Apple, như John Sculley, người sau này cùng Vũ và Sridhar Iyengar lập
ra công ty Misfit. Misfit thành công vì hoạt động ở nước Mỹ chứ không ở bên Tàu
hay Việt Nam. Khi về làm việc trong nước, Sonny Vũ gặp những hạn chế, không thể
phát triển lớn hơn mấy trăm nhân viên.
Những nhà kinh doanh trẻ Việt Nam
còn ở vị thế bất lợi hơn một người Mỹ gốc Việt như Vũ. Họ không những thiếu cơ
hội phát triển tài năng mà còn bị gò bó trong một chế độ chưa hiểu biết gì về sinh thái của kinh tế hiện đại.
Lâu lâu, các nhà kinh doanh trẻ
này được mở mang tầm mắt nhờ gặp gỡ và cộng tác với những người Việt ở nước
ngoài trở về hay khách nước ngoài. Một người trẻ dự cuộc gặp gỡ giữa Tổng Thống
Barack Obama ở Sài Gòn năm trước cho biết anh và các nhà kinh doanh trẻ cảm thấy
đầy phấn khởi khi nghe ông tổng thống Mỹ nói chuyện; cũng như khi họ được gặp
hai người lãnh đạo công ty Google, Mike Cassidy và Sundar Pichai. Họ thâu nhận
kiến thức mới; nhưng quan trọng hơn nữa là họ tập nhiễm thói quen mới, có ý thức
về quyền tự do suy nghĩ, tự do mơ ước, tự do hy vọng của chính mình!
Nhưng dù được khích lệ bao nhiêu,
khi đụng chạm tới thực tế, các nhà kinh doanh trẻ sẽ thấy Sài Gòn hay Hà Nội
chưa có một hệ sinh thái để phát triển tài năng. Sonny Vũ kể rằng nhân viên của
Misfit tại Sài Gòn có thể làm rất nhiều công việc, nhưng thứ họ thiếu nhất là
khả năng sáng tạo các sản phẩm mới (product development). Một sản phẩm thành
công của công ty Misfit là Link App, cho phép người dùng điện thoại nghe nhạc
và tự chụp hình dễ dàng hơn bằng cách bấm một cái nút. Mọi việc sáng chế ra
Link App đều làm ở Sài Gòn. Nhưng công tác họa kiểu (product design) vẫn phải
nhờ các đồng nghiệp sống ở Mỹ, trong đó chắc có nhiều người Việt trẻ tuổi khác.
Người Việt mình không thiếu sáng
kiến, Chính Sonny Vũ nói, trong một bài phỏng vấn với CNET, rằng tất cả các “ý
tưởng lớn” đều có thể vay mượn (Anh nói mạnh hơn – ăn trộm: All the great ideas
are stolen). Vậy tại sao các kỹ sư trẻ tuổi ở nước ta chưa có được những khả
năng như các đồng nghiệp sống ở Mỹ (và ngay cả ở bên Tàu)? Bởi vì Việt Nam thiếu
một “hệ sinh thái” thích hợp cho giới kinh doanh.
Trong bài của Liu Tong, đăng
trong mạng The News Lens (Quan Kiện Bình Luận), nhà phân tích này cho biết trong
bốn tháng đầu năm 2017, có 38,590 dự án kinh doanh mới ra đời (startups), nhưng
cũng có 27,400 doanh nghiệp ngưng hoạt động và hơn 4,000 đóng cửa luôn. Nghĩa
là chỉ có thêm khoảng 7,000 doanh nghiệp mới. Tại sao có nhiều dự án kinh doanh
phải ngưng hoặc chấm dứt hoạt động như vậy? Trong bài viết nêu trên, Liu Tong
đã nêu ra những khó khăn trong môi trường kinh doanh ở nước ta.
Chính nhà nước Cộng Sản cũng công
nhận đến 90% các dự án kinh doanh đã thất bại. Tỷ lệ dó có thể coi là bình thường,
vì tất cả các dự án, các xí nghiệp mới đều rất nhiều rủi ro. Những công ty
thành công như Microsoft, Google, Facebook vượt lên sống được trong những
“nghĩa địa” với hàng chục, hàng trăm ngàn “xác chết” của những doanh nghiệp
cùng theo đuổi một kỳ vọng và mục tiêu!
Nhưng nếu các doanh nghiệp mới bị
thất bại là chuyện bình thường, thì có một thứ bất bình thường là cái chết của
mấy chục ngàn doanh nghiệp trong nước Việt Nam không phải do thiếu tài năng,
thiếu sáng kiến! Lý do chính là họ bị cơ chế chính trị, kinh tế, xã hội bóp đến
nghẹt thở. Hơn thế nữa, còn bao nhiêu những dự án kinh doanh không bao giờ được
mở mắt chào đời, vì không có một hệ sinh thái thích hợp làm mụ đỡ.
Nhìn các nước chung quanh, phải cảm
thấy xấu hổ! Trong lãnh vực mua bán trên mạng (e-commerce), hiện nay Việt Nam
là thị trường nhỏ nhất trong vùng Đông Nam Á mặc dù dân số cao nhất! Mặc dầu thị
trường này có khả năng sẽ tăng trưởng rất nhanh, hơn 10% một năm. Công ty giao
hàng UPS cũng nghiên cứu thị trường Việt Nam và thấy đó là một mỏ vàng chưa được
khai thác.
Các công ty nho nhỏ của người Việt
đã thành công những bước đầu, nhưng nếu muốn bành trướng sẽ gặp rất nhiều chướng
ngại. Từ năm 2012, Sài Gòn có mạng Giaohangnhanh, được nhiều người sử dụng để
“giao hàng nhanh” như họ tự giới thiệu. Mạng Chopp chuyên giao hàng cho các
siêu thị, người mua có thể dùng những “app” đặt mua, với hứa hẹn trong vòng một
giờ sẽ tới.
Tất cả các công ty loại này đều bị
cản trở vì chưa có một hệ sinh thái thích đáng; từ chi phí chuyên chở đắt tiền
và hay tắc nghẽn cho tới tinh thần của người tiêu thụ. Trong kinh tế Việt Nam,
phí tổn về tiếp vận (logistics costs) cao bằng 20% Tổng Sản lượng Nội địa, quá
cao so với tỷ số trung bình của Ấn Độ (13%), Trung Quốc 15% hay 8% ở Mỹ.
Chướng ngại khó vược qua hơn nữa
là mặt tinh thần: Lòng tin của những người tiêu thụ quá thấp. Người Việt Nam
chưa có thói quen đặt tin tưởng vào những lời hứa của “người dưng nước lã!”
Cũng vì cả xã hội đã mất niềm tin giữa con người với con người, hậu quả của một
chế độ chuyên ăn gian nói dối! Vì vậy, hoạt động mua bán trên mạng, e-commerce,
mới xâm nhập được dưới 1% thị trường bán lẻ ở Việt Nam, trong khi đã tiến tới
8% ở Trung Quốc khi được các đại công ty như Alibaba dẫn đầu.
Chưa hết, tất cả các doanh nghiệp
dùng tin học đều bị đè nặng dưới điều 292 trong Bộ Luật Hình Sự. Ở các nước tự
do dân chủ người ta có thể bắt đầu việc kinh doanh trước khi làm giấy tờ hợp thức
hóa ở cơ quan hành chánh. Nhờ thế, nhiều doanh nghiệp ra đời, bán thử trong thị
trường, kêu gọi vốn một cách dễ dàng.
Điều 292 cấm người Việt Nam không
được cung cấp các dịch vụ trên mạng (online) nếu chưa có giấy phép! Ai làm sẽ bị
coi là phạm tội hình! Sau khi bao nhiêu người phản đối, năm 2016 điều này mới
được sửa đổi! Nhưng còn biết bao nhiêu thứ cấm đoán, ràng buộc, luật lệ kìm hãm
sức phát triển kinh doanh của người dân, hệ sinh thái kinh doanh bị bóp nghẹt.
Nhưng các nhà kinh doanh trẻ
trong nước còn gặp những chướng ngại cao như núi khác do chế độ dựng nên.
Trong bài của Liu Tong viết trên
mạng The News Lens nêu ở trên, ông đưa ra mấy chướng ngại chính. Đầu tiên là
không có nguồn vốn cho các doanh nghiệp tư nhân mới. Vốn đầu tư mạo hiểm (VC,
venture capital) còn chưa thành hình. Hệ thống tài chánh của chế độ ưu đãi các
doanh nghiệp nhà nước và bạc đãi tư nhân. Hiện nay hầu hết các công ty mới ra đời
với tầm cỡ lớn đều do người nước ngoài tài trợ. Thí dụ, Mono, làm dịch vụ trả
tiền trên mạng, đã được các ngân hàng
Standard Chartered và Goldman Sachs góp vốn 28 triệu Mỹ kim.
Nạn tham nhũng là chướng ngại lớn
không khác gì bị kỳ thị trong hệ thống ngân hàng.Tư doanh bị gò ép gạt ra ngoài
hệ thống cung cấp hàng hóa hay dịch vụ cho các cơ quan nhà nước. Chi phí “bôi
trơn” của các xí nghiệp khiến cho tất cả đều kém hiệu năng (efficiency). Nếu họ
có cạnh tranh được với các công ty trong nước, họ có thể chịu thua khi phải đối
đầu với những công ty nước ngoài, nơi các quan tham nhũng không “tàn bạo” như
các cán bộ đảng, vì chính những cán bộ này cũng phải dâng tiền lên cấp trên.
Chướng ngại lớn thứ ba mà Liu
Tong nêu ra là hệ thống giáo dục yếu kém. Những người sáng lập các kinh doanh mới
đều có học và tự học hỏi, và họ có thể phát đạt nhanh lúc khởi đầu vì thu hút
được những người cùng trình độ và hoàn cảnh. Nhưng số người đó có giới hạn;
khi tới một trình độ cao hơn, muốn mở rộng
thị trường, thì họ sẽ thiếu nhân viên đủ khả năng vì các đại học kém cỏi!
So với ba chướng ngại kể trên thì
Liu Tong thấy nỗi khó khăn lớn nhất cho giới trẻ Việt Nam là thiếu một hệ sinh
thái thích hợp cho công việc kinh doanh. Ông nhận xét rằng những nhà kinh nước
ta đang thành công đều sống trong một ốc đảo, giữa cái hệ sinh thái chung
quanh. Họ thành công nhờ đứng ngoài lề, không khác gì các bloggers thành công
nhờ đi trên lề đường bên trái, khác các báo đài của đảng cộng sản!
Vì vậy, tất cả các người đã thành
công kinh doanh trong ngành tin học và mạng lưới thường đứng bên lề, chân trước
chân sau, và im hơi lặng tiếng! Họ có thể được đào tạo ở đại học Mỹ hay Úc, hoặc
đã từng làm cho các công ty ngoại quốc, rồi tự ý rời bỏ công việc ở Facebook ra
làm ăn riêng! Hoặc một số chuyên gia hẹn gặp nhau ở Singapore bàn chuyện mở một
dự án chung. Hoặc một công ty ngoại quốc đến Việt Nam tìm cơ hội sử dụng các kỹ
sư có tài và nhận lương thấp hơn ở Thái Lan hay ỏ Mỹ.
Tình trạng trên cho thấy chế độ Cộng
Sản đang kìm hãm sức phát triển của giới kinh doanh trẻ trong nước. Mà đó chính
là một kho vàng!
Một giáo sư người Mỹ đi thăm nước
Israel sau khi các nước Á Rập đang bắt chẹt Tây phương bằng cách tăng giá dầu lửa.
Ông hỏi một bạn đồng nghiệp người Israel rằng nước ông ta không có dầu lửa, làm
sao chống cự lâu dài với lân bang? Vị giáo sư Israel đưa người hỏi tới một thư
viện đại học, chỉ vào các sinh viên đang chúi đầu vào sách hoặc vào máy vi tính,
nói: “Đây là mỏ dầu lửa của chúng tôi!”
Việt Nam đang tranh đấu với Trung
Cộng dành quyền làm chủ những mỏ dầu nằm dưới đấy Biễn Đông. Nhưng trong lúc
đó, những mỏ vàng quý báu trong nước ta đang
bị bỏ quên uổng phí! Muốn phát triển kinh tế, tạo ra một ecosystem mới,
phải xóa bỏ chế độ độc tài toàn trị.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét